THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP







t ừ .n h ữ n g .g i ấ c .m ơ . . .


24506



Image


t i ế n g .g õ .c ử a .đ ê m .m ư a . . .
____________________________________________________________________________
n g u y ễ n q u a n g t ấ n


Tôi không có tuổi trẻ, tôi chỉ có ấu thơ và tuổi già. Nhà văn Kafka nói như vậy. Tôi cũng thế. Mỗi lần nhớ về dĩ vãng, tôi không nhớ đến tuổi trẻ. Nhớ làm gì những tháng năm bom đạn, máu xương và đói khát. Tôi chỉ nhớ đến ấu thơ. Năm ấy đê sông Thái Bình vỡ. Nước tràn về, cuốn sạch nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò của ông nội tôi. Hồi đó tôi 6 tuổi. Mỗi đêm nằm trong lòng ông nội trong căn nhà tre lá dựng tạm nghe ông kể chuyện. Bây giờ xin kể lại. Nhớ nhớ quên quên nên phải bịa đặt thêm bớt ít nhiều...

Nhà ở ngoại ô, gần rừng, có hai tầng, cũ và bẩn. Chủ nhà là hai vợ chồng già và đứa con trai. Anh này làm việc mãi trong thành phố, chỉ về nhà mỗi chiều thứ bảy, sáng thứ hai lại đi sớm.

Một hôm có khách ghé nhà. Hai vợ chồng già vui mừng lắm. Khách là người bạn rất thân, từ hai mươi năm trước.

Bữa ăn tối được dọn ở trên gác, trên chiếc chiếu trải giữa phòng. Trong bữa ăn, chủ nhà hỏi khách:
- Hai mươi năm nay anh ở đâu, làm gì?
- Từ khi vợ chết, tôi chán đời, bán sạch mọi thứ, gom góp được chút tiền, đi khắp thế giới, làm đủ nghề.
Ông khách mở chiếc va-ly lớn lấy ra một xấp vải vàng óng:
- Gấm Hàng Châu Trung Quốc đây, tặng chị may áo.
Rồi ông lấy đủ thứ từ va-ly ra, khoe với vợ chồng ông chủ nhà: Chiếc răng hải cẩu từ Bắc cực, cây sáo của ông đạo sĩ Ấn-độ chuyên nghề dụ rắn, viên đá năm mầu từ hoang mạc châu Phi, chiếc rìu của thổ dân da đỏ... Nhiều lắm, toàn đồ lưu niệm. Khách say sưa nói, chủ mê mẩn nghe. Câu chuyện của ông khách đưa họ ngao du đến những miền đất lạ. Khách đã mang vào căn phòng nhỏ này băng giá của miền Bắc cực, tiếng sáo của các đạo sĩ Ấn-độ, gió từ hoang mạc châu Phi, tiếng ngựa lồng và tiếng chiến binh da đỏ hò reo...

Trong tất cả các vật lưu niệm khách bày ra trên chiếu, có lẫn vào một vật khá kỳ dị, nó giống như bàn tay người nhưng nhỏ hơn, đầy lông và khô đét. Ông chủ nhà hỏi:
- Cái gì đây?
Ông khách trả lời, giọng hơi khó chịu:
- Lại cái đồ quỉ này, cái bàn tay khỉ đấy. Tôi định vứt nó đi nhưng lại quên.
Chủ nhà hỏi:
- Sao lại vứt đi?
- Nó là một linh vật như trong chuyện thần thoại vậy, cứ cầm nó đưa lên cao rồi ước ba điều, ước gì được nấy.
Bà chủ nhà cười lớn:
- Nếu thế sao lại vứt đi? Sao anh không ước lấy một nàng công chúa xinh đẹp, một toà lâu đài và một hòm châu báu?
Khách lắc đầu:
- Chớ có dại... Nhiều người khốn khổ vì nó lắm rồi.
Rồi ông cầm cái bàn tay khỉ ném vào thùng rác ở góc phòng. Nhưng ông ném không trúng, nó chạm vào miệng thùng rác rồi văng ra ngoài, nằm trên sàn.

Họ tiếp tục ăn uống và cười đùa cho đến khuya. Thật là một đêm vui.
Sáng mai ông khách từ giã hai vợ chồng ra đi. Tối đến, hai vợ chồng già ngồi ở trên gác, ngay chỗ hôm qua ăn tối với ông khách. Trời mưa lớn, gió đập quần quật vào thành cửa sổ. Mái nhà cũ kỹ, nước mưa từ những chỗ dột trên mái chảy xuống làm ướt đẫm một góc phòng. Ông chồng nhìn vũng nước buồn rầu:
- Phải có ít nhất hai chục triệu mình mới có thể sửa sang được căn nhà này, mỗi lần gió mưa khổ quá. Hai chục triệu đối với người ta không là gì, còn mình thì không biết đến bao giờ mới dành dụm nổi.
Bà vợ giọng đùa cợt:
- Thì cứ lấy cái bàn tay khỉ mà ước. Điều ước thứ nhất là hai chục triệu để sửa cái nhà, cái phòng toa-lét. Điều thứ hai là ...
Ông cũng phì cười:
- Phải đấy, trước hết là hai chục triệu để sửa cái nhà, cái phòng toa-lét, còn nàng công chúa và toà lâu đài thì để tính sau...
Bất giác ông nhìn vào góc nhà. Cái bàn tay khỉ vẫn nằm dưới chân thùng rác, nó nhỏ như một bàn tay đứa bé, hiền lành, tội nghiệp. Ông đến cầm lấy nó, mân mê.
Bà vợ cười khúc khích:
- Ước đi!
Ông đưa bàn tay khỉ lên cao, trịnh trọng:
- Ước-gì-ta-có-hai-chục-triệu.
Rồi ông ném nó vào thùng rác. Ngoài trời vẫn mưa, người vợ nhìn ra ngoài cửa sổ buồn rầu:
- Không biết thằng Toàn thứ bảy này có về không, mới ba mươi tuổi đầu mà đã phải nuôi cả cha lẫn mẹ. Cảnh này thì không biết đến bao giờ mới lấy được vợ. Khổ... con tôi.
Bà lấy tay áo quệt nước mắt.

Cơn mưa đêm bỗng chốc ngưng hẳn. Đất trời đang vật vã kêu gào chợt lặng yên, khó hiểu. Có tiếng gõ cửa.

Thường thì mỗi khi có tiếng gõ cửa, chỉ có một người xuống mở cửa thôi. Nhưng lần này không biết vì sao cả hai vợ chồng cùng hấp tấp chạy xuống.
Người khách mặc chiếc áo mưa đen, đứng lẫn vào bóng tối, rũ nước trên mũ, ngập ngừng:
- Thưa hai bác, anh Toàn...
Bà hốt hoảng:
- Thằng Toàn làm sao?
Người khách vẫn ngập ngừng:
- Anh Toàn bị xe đụng, đưa đến bệnh viện thì mất. Tôi đại diện công ty xin đến chia buồn cùng ông bà. Anh em có đóng góp chút ít gọi là...
Hai ông bà cùng nghĩ đến điều ước với bàn tay khỉ, cả hai cái miệng cùng hỏi một tiếng:
- Bao nhiêu?
Người khách nói chậm rãi:
- Hai-chục-triệu.
Người chồng chống tay vào cánh cửa cho khỏi ngã. Người vợ ngồi ngay xuống thềm nhà ướt sũng nước mưa, gương mặt biến dạng, đôi mắt lồi ra, nhìn trừng trừng vào người khách. Ông này bất giác lùi lại một bước.

Vài ngày sau, đêm vẫn mưa rả rích. Hai vợ chồng già vẫn ngồi chỗ cũ. Căn phòng bây giờ có thêm cái bàn thờ. Trên bàn thờ đôi mắt người con trai nhìn vu vơ làn khói bát hương. Người chồng im lặng hút thuốc, người vợ thỉnh thoảng quệt nước mắt bằng tay áo, gọi khe khẽ trong cổ họng:
- Toàn ơi!... Con ơi!...
Bất chợt, bà ngẩng đầu lên gọi chồng:
- Mình ơi!
Ông nhìn bà, chờ đợi. Đôi mắt người đàn bà mở lớn, đầy hy vọng:
- Cái bàn tay khỉ... còn hai điều ước nữa...
Bà đứng vụt dậy, chạy đến bên thùng rác, nhìn vào. Từ khi thành vợ chồng, chưa bao giờ ông thấy bà nhanh đến thế. Ông muốn chạy đến nhưng không kịp. Bà cầm cái bàn tay khỉ đưa lên cao, lắp bắp, mê sảng:
- Tôi ước gì... thằng Toàn con tôi... nó về với tôi...
Mái tóc khô của bà xù ra, đổ trùm lên khuôn mặt nhăn nheo. Bà cứ đứng lom khom giữa phòng, bàn tay già nua nổi gân xanh nắm chặt lấy bàn tay khỉ. Mắt bà nhìn xuống chân cầu thang, nghe ngóng.

Chưa bao giờ ông sợ bà đến thế. Trước mặt ông, bà không còn là người vợ hiền lành nữa, lòng thương con đã biến bà thành một con quỉ gớm ghiếc.

Đêm lại trở bão, gió lại quần quật ngoài cửa sổ. Nhưng cũng như đêm nào, đất trời đang vật vã kêu gào bỗng dưng im bặt, khó hiểu. Bà không ngồi, vẫn đứng lom khom nhìn xuống chân cầu thang chờ đợi, nghe ngóng...

Và rồi có tiếng gõ cửa. Cùng với tiếng gõ cửa là một mùi tanh hôi lợm giọng từ dưới nhà bốc lên, mùi tanh hôi của xác chết đang thối rữa. Bà lao xuống cầu thang, ông chồm đến ôm lấy bà, giữ lại. Nhưng bà mạnh quá, đẩy ông ngã xuống sàn nhà, ông nhoài mình ôm chặt lấy hai chân bà, bà ngã xuống, đè lên người ông, cắn sâu vào cánh tay ông, cào vào mặt ông, nhưng ông không thấy đau, ông chỉ hình dung ở dưới kia, bên ngoài cánh cửa, một tử thi với tấm khăn liệm trùm lên những mảnh thịt da rữa nát, đứng trong mưa...

Lại có tiếng gõ cửa, nhưng trên đầu cầu thang hai vợ chồng vẫn ôm chặt lấy nhau, cào cấu, cắn xé. Bà mạnh quá, chưa bao giờ mạnh như thế. Bà sắp thoát khỏi tay ông rồi. Trong cơn tuyệt vọng, ông nhìn thấy cái bàn tay khỉ văng ra nằm trên sàn nhà. Ông buông bà ra, cầm lấy nó, đưa lên, đọc lời ước cuối cùng.

Image


24507



Image


t ừ .n h ữ ng .g i ấ c .m ơ .
____________________________________________________________________________
n g u y ễ n q u a n g t ấ n


Vượt biên hụt, ở tù xong, nhà bị tịch thu, tôi không nhà cửa, không vợ con, không nghề nghiệp. Ban ngày đi làm thuê làm mướn vặt, bữa có bữa không, tối đến vào rẫy người bạn lục nồi xin cơm nguội, xin ngủ nhờ. Đường vào rẫy, từng đêm tôi phải đi xuyên qua một cánh rừng cao-su rộng mịt mù, tối như một biển bóng tối, vừa đi vừa phải nhìn lên những mảnh trời lộ ra sau những tàn lá để định hướng, chỗ này có hình người đàn bà ôm con thì rẽ phải, chỗ kia có hình người lính bồng súng thì rẽ trái, chỗ nào có hình chiếc thuyền buồm là sắp đến nơi. Nếu lạc hướng thì có đi đến sáng cũng không tìm thấy lối ra. Đêm ấy tôi đi lạc.

Khi tôi vào đến giữa rừng thì trời chuyển động. Có tiếng sấm ì ầm từ xa. Tôi lo lắm, trời mà mưa thì có thể lạc giữa rừng, chết vì đói và lạnh. Trong bóng tối, tôi chạy, chạy nhưng mắt vẫn phải nhìn lên trời để tìm người đàn bà ôm con, người lính bồng súng. Hy vọng nhìn thấy chiếc thuyền buồm trước khi trời đổ mưa. Nhưng không kịp rồi, những giọt mưa đầu tiên đã quất xuống những tàn lá những tiếng rào rào. Một phút sau, nhìn lên cũng chỉ thấy một màu đen kịt. Trên dưới, phải trái chỉ là một màu đen. Mưa, mưa xối xả như những lời nguyền rủa tuôn ra từ một cái miệng khổng lồ tối như hang sâu. Tôi cùng đường rồi, đưa hai cánh tay ra phía trước, chân lò dò đi từng bước, tôi sờ được một thân cây ướt sũng, vuốt mặt, tôi ngồi xuống dưới gốc, đầu gục xuống giữa hai đầu gối, hai tay ôm lấy cẳng chân, run lên vì lạnh. Tôi thấy tôi gầy quá. Tôi nhớ đến những người bạn tù của tôi đang còn nằm lại trong nhà giam. Dù sao bây giờ chúng nó cũng được ăn no và ngủ bên nhau ấm áp. Còn tôi đang đói và rét run lên trong cái địa ngục bao la của tự do này. Cơn đói buổi chiều bây giờ đã biến thành cơn đau bụng. Tôi cắn nhẹ vào môi dưới, không có cảm giác gì. Ướt và lạnh đã làm tôi tê dại. Mưa vẫn mưa. Mưa phủ kín đất trời, phủ kín khu rừng, phủ kín tôi. Tôi bắt đầu nghĩ đến sự chết. Sự chết hẳn là dịu dàng và êm ái lắm. Sáng mai, khi những công nhân đi làm sớm sẽ thấy một xác chết trong tư thế ngồi dựa lưng vào gốc cây, mặt gục giữa hai đầu gối. Đầu óc bắt đầu hoảng loạn, tôi sắp ngất đi... nhưng trước khi ngất, tôi vẫn nghĩ: Nếu bây giờ mình yêu một người nào đó với mối tình tuyệt vọng thì hẳn là mình sẽ lên được tới đỉnh cao nhất của khổ đau.

Nhưng rồi mưa cũng tạnh, còn tôi vẫn chưa ngất. Trái lại, tôi thấy dễ chịu, đói và lạnh cũng dịu đi. Có ai nói rằng khi khổ quá, con người sẽ phát sinh những lực đề kháng chưa từng có. Tôi nhìn lên trời. Không biết người đàn bà ôm con, người lính bồng súng, chiếc thuyền buồm bây giờ nằm ở đâu, chỉ có ánh trăng chiếu qua những khoảng trống lá rừng. Đêm nay tôi nhớ là đêm rằm. Tôi cởi quần áo, vắt ráo nước, mặc vào, rồi lại đi, dù chẳng biết đi về hướng nào nhưng chẳng lẽ cứ đứng đấy. Cứ đi đến sáng thế nào cũng ra khỏi rừng.

Có âm thanh từ rất xa, mơ hồ... Tôi dừng lại, lắng nghe. Tiếng vĩ cầm. Sao lại là tiếng vĩ cầm? Hay chỉ là tiếng gió reo trên ngọn cây? Tiếng vĩ cầm thật. Giữa rừng vắng, tiếng đàn chìm nổi bồng bềnh trong ánh trăng. Đất trời tinh khôi như một dải lụa trắng. Thân xác, linh hồn tôi được cơn mưa rừng tắm gội, tiếng đàn trang điểm. Đau buồn dĩ vãng, lo âu tương lai như biến sạch. Hồn tôi nhẹ như mây. Bây giờ tôi biết tôi phải đi về hướng nào rồi. Về hướng phát ra tiếng đàn. Nơi đó không tượng đài kỷ niệm, không chủ nghĩa, không lập trường, chính sách, quan điểm, không nhà tù. Nơi đó người ta đối xử với nhau như bạn bè, như tình nhân và những kẻ lỡ đường đều được ăn no và sưởi ấm. Nương theo tiếng đàn, tôi đi ...

Tiếng đàn im hẳn, còn tôi đang đứng trước cửa căn phòng của một ngôi nhà lớn. Ngôi nhà nửa như trang trại nửa như biệt thự. Đứng dưới thềm, tôi do dự không biết có nên gõ cửa hay không thì cánh cửa đã mở. Một người đàn bà từ trong nhà ra, chạy hối hả xuống thềm cầm cánh tay tôi dắt lên, giọng Bắc trầm, ấm áp:
- Ông vào đi!
Tôi thấy tim mình đập mạnh, bước theo nàng, áy náy vì đôi giày vải đầy bùn, chiếc áo độc nhất rách một miếng lớn ở vai. Nhưng bà chủ nhà có vẻ không để ý.
- Mời ông ngồi, ông có vẻ bị lạnh, ông lại ngồi gần đây cho ấm. Để tôi cho thêm củi vào lò sưởi.
Tôi không biết gọi chủ nhà là bà hay cô vì gương mặt nàng nửa già nửa trẻ. Tôi ngồi xuống, ấp úng:
- Cám ơn bà.
Người ta gọi mình là ông thì mình cũng nên gọi người ta là bà.
- Ông dùng cà-phê nhé!
- Dạ! cám ơn bà.
- Ông ngồi chơi, tôi vào bếp pha cà-phê.
- Dạ.
Nàng đứng dậy, dáng đi yêu kiều.

Tôi ngượng ngùng quá, không quen biết, sao lại được đối xử quá nồng hậu thế này. Căn phòng nhỏ sang trọng, hơi bừa bộn, sự bừa bộn có chủ ý. Chiếc áo thổ cẩm vắt hững hờ trên thành ghế, quyển sách mở rơi dưới chân bàn, bông hoa rơi giữa lối đi, những cây nến cháy dở trên thành cửa sổ... Một dạng mỹ thuật cao cấp. Nhưng vật làm tôi chú ý nhất là cái vĩ cầm nâu thẫm nằm trên chiếc salon đỏ rực. Hình như người chơi đàn đặt nó xuống đấy để vội vã chạy ra mở cửa. Tôi cầm cây đàn lên. Hàng chữ Stradivarius kim nhũ mờ mờ ở đầu cây đàn làm tôi giật mình. Tôi đang cầm trong tay một báu vật. Chủ nhà đi ra, trên tay là một khay lớn. Mùi cà-phê làm tôi tỉnh táo. Tôi hỏi:
- Bà chơi violon?
- Dạ, nhưng chưa được ngọt, vẫn còn chua lắm! Mời ông dùng bánh mì và cà-phê.
Tôi nhìn vào chiếc khay bà chủ nhà vừa đặt xuống bàn, ngoài cà-phê, bánh mì còn có rượu và mấy đĩa đồ ăn mà tôi biết rằng chỉ có ở các nơi sang trọng. Tôi nói:
- Bà làm tôi ngại quá! Tôi chỉ là kẻ lạc đường... chúng ta chưa quen biết nhau...
Chủ nhà nhìn tôi bằng ánh mắt nghiêm trang, ngắt lời:
- Tôi và ông chưa hề gặp nhau, nhưng những giọt máu trong huyết quản của ông và của tôi, chúng nó là bạn bè thân thiết đấy!

Câu nói đánh trúng vào tâm can tôi. Từ lúc gặp nàng tôi có cảm tưởng mơ hồ rằng người này là mẹ tôi, vợ tôi, em gái tôi hay người tình của tôi. Gương mặt nàng sao tôi thấy quen thuộc thân yêu quá, dù chưa biết nàng là ai, chưa gặp lần nào.

Ngọn lửa trong lò sưởi bên cạnh tôi vẫn cháy. Áo tôi đã khô. Cà-phê, bánh mì, rượu và những món ăn đã làm tôi tỉnh táo và dạn dĩ hẳn. Bà chủ nhà vẫn ngồi đấy, cúi mặt nhìn cây đàn để trên đùi. Bóng lửa nhảy múa làm gương mặt nàng lúc già lúc trẻ, lúc xa lạ, lúc thân quen.
Nàng búng khẽ mấy sợi dây đàn, âm thanh rộn rã vui. Tôi hỏi:
- Bà mua được cây đàn này ở đâu vậy?
Nàng nhìn lên:
- Làm sao tôi mua được! Tôi hái nó từ một giấc mơ đấy.
Tôi không hiểu nàng nói gì.
Nàng nói tiếp:
- Bánh mì, rượu, cà-phê và những thứ ông vừa dùng cũng hái từ những giấc mơ, cả ngọn lửa đang cháy trong lò sưởi...
Nhìn mắt nàng, tôi biết nàng không nói đùa. Tôi hỏi tiếp:
- Nhưng sao lại từ những giấc mơ? Giấc mơ gì? Sao lại hái?
- Ông không hiểu. Nghề chuyên môn của tôi là ươm trồng những giấc mơ.
- Tôi chưa bao giờ được nghe nói về nghề này. Bà có thể cho tôi biết chút ít không?
- Khá rắc rối đấy! Trước hết là phải tìm cho ra hạt giống. Chắc ông biết dụ ngôn người gieo giống trong Kinh Thánh? Phải tìm được những hạt giống mà chim trời đã mang đi. Khi ươm hạt, phải theo đúng quy trình công nghệ. Không phải công nghệ hiện đại mà là công nghệ đã thất truyền. Nếu không đúng, những mầm xanh sẽ chết trước khi ra đời. Tôi may mắn có được loại công nghệ này do tổ tiên truyền lại. Điều khó khăn nữa là không được cho cây nghe những loại âm thanh không thích hợp.
- Thưa bà, loại âm thanh nào cây không thích nghe?
- Nhiều lắm, Nhưng tối kỵ là tiếng rên rỉ của những người thua cuộc, tiếng hò reo của những đoàn quân chiến thắng, tiếng tung hô muôn năm những vị anh hùng, những bài ca suy tôn các nhà ái quốc. Nghe phải những thứ này cây sẽ vĩnh viễn không đơm hoa kết trái.
-Thế còn vấn đề chăm bón?Bà bón cho cây bằng loại phân gì?
- Bằng những vần thơ.
- Những vần thơ? Thơ gì? Thơ của ai?
- Đủ loại thơ, thơ của nhiều người, nhưng phần lớn là của ông...
Tôi kịp giữ cho mình không đứng vụt dậy, mắt tôi trợn trừng nhìn người đối diện:
- Bà đọc thơ của tôi bao giờ?
- Tôi bỏ nhiều năm để tìm đọc các thi sĩ nổi danh trên thế giới, nhưng không tìm được nhiều loại thơ thích hợp để bón cây. Nhưng khi tìm trong số những thi sĩ vô danh, tôi gặp ông. Thơ của ông đúng là mặt hàng tôi cần.
- Bà bón cây bằng thơ như thế nào? Chôn thơ ở dưới gốc?
- Không! Tôi phải học thuộc lòng rồi đọc cho cây nghe. Chẳng hạn, tôi đến bên cây và đọc một đoạn thơ của ông:
Tiếng đàn thi sĩ vô danh
Cánh chim rơi giữa mối tình
Ta buồn nỗi buồn cung nỏ
Cung nào em bắn trúng anh...

Những câu thơ này bình thường, không hay lắm. Nhưng chỉ trong vài ngày, cây xanh tươi lên hẳn.
Sự tò mò của tôi lên mức cùng cực:
- Ngoài bà ra, còn ai làm công việc này không?
- Cũng có, nhưng họ trồng theo qui trình công nghệ hiện đại. Loại công nghệ này tôi cũng biết nhưng không thích.
-Bà không thích công nghệ hiện đại?
-Vâng. Với tôi, càng hiện đại càng tầm thường, đôi khi còn dơ bẩn và nguy hiểm nữa.
- Vì sao lại tầm thường?
- Vì trồng cây theo loại công nghệ này dễ dãi quá, chỉ cần cho cây nghe những bản tuyên ngôn, những lời xưng tụng, những tiếng la hét khóc than là được. Những cái này dễ kiếm thôi.
- Loại cây này có phải bón bằng thơ không?
- Ồ không! Đơn giản hơn nhiều! Bằng máu. Máu thì ở đâu mà chẳng có. Lúc nào cũng có. Gánh máu về, đổ lênh láng dưới gốc cây, không phải tìm kiếm vất vả như thơ.
- Người ta hái được những gì từ những cây loại này?
- Cũng lại mấy cái tầm thường. Chẳng hạn như hai quả bom ở Nagasaki và Hiroshima, lò thiêu người của Đức Quốc Xã, vụ thảm sát Thiên An Môn... Mấy cái lặt vặt!
Tôi rùng mình, nhưng vẫn hỏi mà không giấu được niềm tự hào:
- Nhưng vì sao bà biết rằng nếu được bón bằng thơ của tôi, cây sẽ cho bánh mì, cà-phê, rượu và thức ăn?
Bà chủ nhà cười thành tiếng:
-Tôi biết nhiều về ông, nhiều lắm. Tôi biết ông chẳng mấy khi được ăn no, và mới đây thôi, ông suýt chết vì đói và lạnh ở trong rừng, chết theo tư thế ngồi dựa lưng vào gốc cây, mặt gục giữa hai đầu gối.
Nụ cười đẹp quá, tôi muốn hôn vào nụ cười ấy, nhưng đôi mắt lấp lánh tia nhìn chế giễu làm tôi xấu hổ. Nàng nhìn ra cửa sổ, thở dài:
- Đêm hết rồi. Không biết đến bao giờ mới được gặp lại ông.
Chủ nhà đã đuổi khách. Tôi đứng dậy, luyến tiếc nhìn ngọn lửa cháy trong lò:
- Cám ơn bà. Mong có ngày được gặp lại bà.
Nàng mở cửa, tiễn tôi xuống dưới thềm nhà. Trời vẫn chưa sáng hẳn.
Lấy hết can đảm, tôi hỏi:
- Xin bà thứ lỗi, bà có thể cho tôi biết bà là ai không?Tôi thấy bà quen lắm nhưng không nhớ...
Bất ngờ, nàng đến sát cạnh tôi, hai bàn tay nàng cầm lấy hai bàn tay tôi, đắm đuối nói trong hơi thở:
- Em chỉ là hình bóng của mối tình xa xưa. Mối tình mà anh đã nói chẳng thể nào quên...


Image


24508



Image


á o .b a y .q u ằ n .q u ạ i . . .
__________________________________________________________________________
n g u y ễ n q u a n g t ấ n


Hôm nay nắng lớn đây. Mang áo ra phơi thôi, để lâu trong tủ suốt tháng mưa dầm coi chừng mốc hết. Thu nghĩ vậy. Cô mở tủ lấy tất cả những cái áo mới nhất, đẹp nhất, cho vào bao vải, mang ra sân sau, phơi trên sợi dây kẽm dài mắc giữa hai cây sào gần giếng. Buổi sáng đẹp thật. Nắng gió tràn trề, trời cao vút, xanh thẳm, những bông hoa chuối nước góc vườn cũng đỏ thẫm hơn mọi ngày. Thu vừa phơi áo vừa cười mỉm, cười một mình, tóc cô bay lồng lộng, mắt cô xa xăm mơ màng. Hẳn là cô đang nghĩ đến ai đấy... Trời hôm nay nhiều gió quá. Gió ào ạt, gió thổi những chiếc áo đủ sắc mầu bay rộn ràng như những lá cờ trong ngày hội lớn. Ngày đẹp thật đẹp. đời vui thật vui. Có tiếng gọi từ trong nhà:
-Thu ơi! Mày làm gì đấy? Vào đây tao nói chuyện này.

Tiếng gọi của Nga, cô bạn thân nhất. Thu quay mặt gọi vào:
- Chuyện gì ra đây nói.

Nga đi ra, vội vã đến bên Thu thì thầm, nghiêm trọng:
- Mày biết gì chưa? Thằng bồ mày nó theo con khác rồi.

Sắc mặt Thu trầm xuống, nhưng cô lại cười ngay:
- Tưởng chuyện gì. Nó theo con khác, thì tao theo thằng khác, có gì ghê gớm đâu. Nhưng mà nó theo con nào?
- Nó theo cái con bữa trước nó giới thiệu là cô em bà con ở Sài gòn lên chơi đó. Con này ở trong phòng với nó một đêm, đến sáng, thằng bồ mày chào từ biệt bà chủ phòng trọ rồi hai đứa, mỗi đứa một va ly, một ba lô đồ đạc ra ngoài lộ đứng bên nhau đón xe, cười nói tình tứ lắm.

Thu nói:
- Mày thấy con nhỏ đó đẹp đấy chứ?
- Đẹp mà còn sang nữa, chị em mình và gái vùng này không có đứa nào bén gót.
Thu tỉnh bơ:
- Thôi dẹp cái chuyện bá láp ấy đi. Mày biết hôm nay giá gạo ngoài chợ bao nhiêu một ký không? Cái gì cũng lên giá thì biết làm sao sống đây. Hôm qua tao ra chợ, thấy có cái áo thun đỏ tay dài đẹp lắm nhưng không đủ tiền. Chút nữa tao bắt đôi gà mang ra chợ. Bán đôi gà chắc mua được cái áo. Mày đi với tao nhé?
- Ừ. Hồi này mày có vẻ khoái ăn diện đấy.

Thu vẫn tỉnh bơ:
- Chứ sao! Tao phải diện đẹp để ve vãn mấy thằng nông dân trong vùng, thằng nào chịu, tao lấy nó quách. Nghèo hèn nhưng chân thật, có nghĩa có tình.

Nga nói giọng khôi hài:
- Nếu mày lấy được một thằng chồng như thế thì cho tao lấy ké với. Hai đứa mình xài chung một thằng chồng cũng được. Mày xinh đẹp, làm vợ lớn, tao xấu xí quê mùa làm vợ bé. Sau đám cưới, chúng mình oẳn tù tì. Đứa nào thắng, được động phòng hoa chúc trước.

Thu bỗng cười phá lên. Cô cười sặc sụa, cười ngặt nghẽo, cười rũ rượi sau câu khôi hài không có gì buồn cười cho lắm. Miệng cô cười nhưng đôi mắt cô không cười. Hai con mắt cứ mở lớn, nhìn trợn trừng về phía trước khiến gương mặt cô có một vẻ kỳ dị khó hiểu. Và cô cứ cười như thế đến khi Nga vô tâm quát lên:
- Thôi im đi con khùng! Cười gì mà dữ thế! Vào bắt gà rồi đi chợ. Trưa rồi.

Rồi Nga nắm lấy cánh tay bạn lôi vào. Trời hôm nay sao mà nhiều gió thế. Sau lưng hai người, gió vẫn thổi ...

Gió thổi những chiếc áo bay quằn quại.
Image


24509



Image


t á c .p h ẩ m . . . . .
__________________________________________________________________________
n g u y ễ n q u a n g t ấ n


Tám mươi mốt tuổi, mắt mờ, tay run. Công việc duy nhất trong ngày của ông là ngồi tiếc nhớ dĩ vãng. Dĩ vãng đầy mùi thuốc súng và tiếng quân reo. Ngày đó ông là tiểu đoàn trưởng của một tiểu đoàn đầy chiến công vang dội. Địch quân khiếp vía, cấp trên nể trọng. Dân chúng sùng bái ông như một vị thần. Nhưng dã xa lắm rồi những trận đánh kinh thiên động địa, những bữa tiệc khao quân rượu chảy như suối. Bây giờ ông ngồi đấy với mái tóc bạc, nhưng trong đôi mắt xếch vẫn phảng phất nét kiêu hùng vì trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ông đóng góp một phần không nhỏ, vì máu ông đã chảy trên quê hương. Bây giờ quê hương ông lại bị dày xéo, còn ông tám mươi mốt tuổi, mắt mờ, tay run ngồi nhìn. Uất ức.

Nhưng điều khiến cho nỗi uất ức của ông lên tới cực điềm là bọn thanh niên đồng bào của ông. Chúng ăn diện, đùa vui ca hát như không có chuyện gì. Thậm chí, lũ con gái còn ngả ngớn tình tứ với bọn lính giặc mỗi khi chúng vào làng ve vãn. Một lũ người không biết nhục. Không có cái nhục nào hơn cái nhục mất nước. Ông muốn gào lên chửi chúng nó, nhưng tiếng thét xung phong ngày nào bây giờ chỉ còn là những tiếng thều thào đứt đoạn.

Phải có khẩu hiệu. Chỉ có cách ấy may ra mới thức tỉnh được bọn hậu sinh vô liêm sỉ. Ông nghĩ ra điều đó sau một đêm mất ngủ. Nhưng có một trở ngại kinh khủng trong toan tính của ông: Ông mù chữ. Mấy chữ cái thuở vỡ lòng lửa chiến tranh đã thiêu rụi. Khi còn trai tráng, ông ghét nhất bọn khệnh khạng trí thức sách vở. Bọn này khi bình yên vô sự thì mang văn thơ chữ nghĩa ra lòe nhau, viết những bài thơ yêu nước thương nòi, nhưng khi nghe tiếng súng là cúp đuôi chạy mất. Còn ông, với thanh gươm, khẩu súng, ông đổ máu chiến đấu cho sự sống còn của tổ quốc trên những đỉnh núi lồng lộng gió ngàn...

Nhưng bây giờ ông lại cần đến chữ. Ông hỏi đứa cháu nội bảy tuổi:
- Muốn biết viết thì phải mất bao lâu?
- Lâu lắm ông ạ.
- Bây giờ ông cháu mình chơi trò lớp học. Cháu làm thầy, ông làm học trò. Cháu dạy cho ông biết đọc biết viết nhé?
- Dạ. Nhưng ông không được mách bố hôm qua cháu đi tắm sông.
- Ừ
- Ông phải kể cho cháu nghe cái trận công đồn miền Tây Bắc do ông chỉ huy nữa.
- Ừ.
Ông vừa trả lời vừa mơ màng lắng nghe tiếng súng nổ trong trí nhớ, tay mân mê vết sẹo đen trên ngực, kỷ niệm một trận xáp lá cà. Một lưỡi lê suýt đâm trúng phổi.

Nửa năm sau, khi câu văn hoàn chỉnh Thà Chết Còn Hơn Làm Nô Lệ được thầy giáo bảy tuổi cho điểm mười. Ông học trò tám mốt tuổi đợi đến khi đêm xuống, trăng lên, lặng lẽ ra khỏi nhà, mang theo một thùng sơn đỏ, cây chổi quét, chống gậy lần từng bước về phía cuối chợ, nơi có bức tường cũ. Thận trọng ông viết, thỉnh thoảng lại lấy trong túi ra mảnh giấy để kiểm tra lỗi chính tả. Xong. Ông lùi lại vài bước chiêm ngưỡng tác phẩm văn chương lớn nhất đời mình: Thà Chết Còn Hơn Làm Nô Lệ. Bức tường bao nhiêu năm câm nín nhẫn nhục bây giờ như có linh hồn và lên tiếng nói. Máu ông chảy mạnh, tim đập rộn ràng, cảm giác hệt như thời ông mười tám tuổi, lần đầu tiên hôn người con gái trong mối tình đầu.

Nhưng ông thở dài, chán nản. Bức tường vừa thấp lại vừa bẩn, ở dưới lại có một đống rác lớn. Tác phẩm của ông cần phải được trưng bày trang trọng ở một nơi tôn nghiêm, cao vút để cả làng nhìn thấy. Và ông nghĩ đến cái tháp chuông nhà thờ.

Sáng ngày mai, khi những tín đồ đầu tiên đi lễ sớm, thấy từ xa một hàng chữ Thà Chết Còn Hơn Làm Nô Lệ đỏ lộng lẫy trên nền trắng tháp chuông, phía sau là bầu trời rạng đông rất nhiều mây.

Dưới chân tháp, xác ông già nằm cứng đờ. Máu và óc trộn lẫn vào nhau, chảy dọc theo thềm đá.


24510



Image


n h ữ n g .n g ư ờ i .đ à n .b à .
t ô i .g ặ p .t r ê n .c ầ u
____________________________________________________________________________
n g u y ễ n q u a n g t ấ n


Càng về xa thì sông càng càng rộng. Đến đường chân trời thì mở ra bát ngát như một cái hồ. Chỗ hẹp nhất có một cây cầu lớn. Xe cộ tấp nập ngày và đêm. Nhưng cứ đến khoảng gần tối, khi dãy đèn hai bên thành cầu vừa bật sáng thì cầu vắng hoe, họa hoằn mới có vài chiếc xe qua. Vào giờ này gió nhiều, gió xa thổi về ngùn ngụt. Tôi hay đi dạo trên cầu vào lúc này. Đi để nghĩ vớ vẩn, hay là không nghĩ gì cả.

Hôm ấy, chạng vạng tối, tôi vịn thành cầu nhìn dòng nước phản chiếu ánh đèn mầu phố xá hai bên bờ. Một người đàn bà đi ngược chiều, dừng lại sau tôi, tiếng gọi khẽ:
- Anh ...
Tôi quay lại. Người đàn bà ngập ngừng rồi nói rất nhanh như thể nếu nói chậm sẽ không còn can đảm để nói:
- Mình đi chơi đi anh. Tiền phòng một giờ năm chục, còn anh muốn cho em bao nhiêu tùy anh.
Tiếng nói yếu đuối, mệt nhọc, lẫn với hơi thở. Không trả lời, tôi quan sát nhanh. Gần 50 tuổi, tóc khô, vài sợi bạc, đôi mắt lớn buồn thảm, nhiều nếp nhăn với quầng thâm u uẩn, miệng nhỏ, sống mũi cao thanh nhã. Một nhan sắc còn rơi rớt từ lắc lơ xa dĩ vãng.
Tiếng nói vẫn nhanh, yếu và ngượng ngùng:
- Nếu anh không đi thì giúp em chút. Em... khổ quá.
Tôi không biết nói gì, cho tay vào túi sau, móc ra mấy tờ giấy bạc nhàu, vuốt thẳng, thành kính đưa về phía trước bằng cả hai tay. Không hiểu sao tôi lại có thái độ trịnh trọng như thế. Người đàn bà nhận những tờ giấy bạc cũng bằng hai tay cùng với lời cám ơn thì thầm như kinh nguyện. Hai đôi mắt gặp nhau, im lặng. Một thoáng, tôi thấy tôi và người này là hai tín đồ đang cử hành thánh lễ của một tôn giáo quái dị. Tôn giáo phụng thờ Đau Khổ và Khốn Cùng. Gió bắt đầu lạnh, gió phần phật thổi chiếc áo trắng mỏng ép sát vào thân hình gầy gò của người đàn bà với hai gò ngực lép, nhấp nhô. Chào nhau rồi đi, đi về hai phía khác nhau. Chỉ vậy thôi mà sao một cảm giác nhói đau như là lần từ biệt sau cùng trong đoạn kết một chuyện tình.

Hôm sau, cũng vào giờ đó, tôi lại đi trên cầu. Đi và nghĩ đến người đàn bà gặp ngày hôm qua. Một chiếc xe gắn máy dừng lại gần chỗ tôi, phía trước. Trên xe bước xuống hai người đàn bà còn trẻ. Quần đùi, áo thun. Một tóc ngắn và một tóc dài. Họ dựng xe, ngồi xuống lề đường. Tóc Ngắn vén tay áo lên bóp bóp chỗ khuỷu tay, Tóc Dài rút trong túi quần ra một vật gì nhỏ, trăng trắng. Tôi đến gần hơn. Ma túy. Thấy tôi nhìn, Tóc Dài quắc mắt:
- Nhìn gì cha nội!
Hình xăm bông huệ tím trên vai và ống tiêm với đầu mũi kim nhỏ như răng rắn độc làm tôi ơn ớn. Không nói gì, tôi đi tiếp. Đi và nhớ đến người đàn bà gặp hôm qua, so sánh với hai người đàn bà gặp hôm nay và cũng lẩn thẩn so sánh với cuộc đời mình. Chẳng khác nhau là mấy. Gió bắt đầu lạnh. Thôi về.

Đêm ấy tôi mơ thấy tôi nằm bên người đàn bà có đôi mắt quầng thâm buồn thảm trong một căn phòng lớn ngập ánh trăng chiếu từ cửa sổ. Đôi mắt người đàn bà vẫn chớp, nước mắt vẫn chảy, nhưng trái tim đã ngưng đập và thân hình đã lạnh ngắt tử thi. Cạnh giường, ả ma túy đứng trần truồng, tóc phủ đầy mặt, đôi mắt trắng dã, tay cầm lăm lăm một ống kim tiêm. Từng cơn gió lạnh thổi lộng suốt giấc mơ.

Hôm nay tôi lên cầu đi dạo sớm hơn mọi ngày. Đầu óc vẫn chưa ra khỏi giấc mơ đêm qua. Một chiếc xe tang chở những người áo tang khăn tang qua cầu. Xe chạy nhanh, trên xe không có áo quan. Hình như vừa chôn cất xong, về từ nghĩa địa. Có lần tôi đọc ở đâu đó rằng khi tẩm liệm, xác chết được đặt nằm ngửa, ngay ngắn. Nhưng nhiều năm sau, khi cải táng, người ta thấy bộ xương nằm co quắp, nằm nghiêng, trên nắp áo quan có dấu móng tay cào. Có phải là người chết đã sống lại trong áo quan? Và trong phút hồi sinh ghê rợn ấy người chết làm gì? Đưa tay cào nắp áo quan? Phải chăng tôi cũng đã chết, đã chết lâu rồi, và thế giới quanh tôi chính là một cái áo quan? Một phút bằng 60 giây, có phải là thuyết thời gian tương đối gì gì đó cho rằng 60 giây cũng có thể bằng 60 năm? Trong 60 năm hay là 60 giây ấy tôi đã làm gì? Đắm đuối, đam mê, vắt cạn sức lực để tranh đấu cho những khát vọng này nọ, chẳng qua cũng như là xác chết đưa tay cào nắp áo quan? Lại nghĩ vớ vẩn rồi... không sao. Nghĩ tiếp. Và tôi nghĩ đến một đoạn thơ của Chim Hải, cũng là một người đàn bà tôi gặp trên cầu nhưng gặp trong tâm thức:
tôi hoang vu mịch lặng cõi người
tôi mắt ráo nhìn tôi lùi mấy mùa thơ rớt
vắt cạn đam mê đuối / đắm cõi tôi
cào xước hòm đời
...

Tiết tấu chênh vênh, ngôn từ lạ lùng, ý tưởng táo bạo, và tính sáng tạo đã làm cho những câu thơ này trở nên rất kén người đọc, nghĩa là không phải ai cũng có thể đọc, nhưng đã đọc được rồi thì thấm thía tận cõi lòng...Vậy đấy, hết nghĩ từ chuyện xác chết tỉnh dậy cào xước hòm rồi lại lan man sang chuyện văn chương thi phú. Tôi là thế. Xưa nay vẫn thế.

Ngày hôm sau nữa, khi vừa bước lên cầu vài thước, một bà cụ chống gậy lom khom, trước ngực đeo một cái túi vải, chìa ra trước mặt tôi một xấp vé số:
- Ông mua giúp cho vài tờ. Chiều mai xổ.
Tôi không thích mua vé số, nhưng bà cụ này có gương mặt và thân hình hao hao giống mẹ tôi. Cũng thấp bé, giọng Bắc nhỏ nhẹ. Lòng tôi chùng xuống, lấy hai tờ, trả tiền, nhìn bà cụ một thoáng rồi đi. Đi và nghĩ đến mẹ. Ngày ấy, ở một miền đất nắng cháy mưa dầm, đói ăn và sốt rét, mẹ tôi như một con gà mái già xòe đôi cánh xơ xác ôm lấy những đứa con trong những tháng năm khốn khó. Nếu mẹ tôi còn sống, không biết bà có phải sớm khuya lang thang kiếm sống như bà cụ này không. Nhìn vào hai tấm vé số, tôi sững người, dừng lại. Vé số xổ rồi, cách đây hai ngày. Không biết hôm nay bà cụ đã lừa được bao nhiêu người và tôi là người thứ mấy bị lừa. Quay đầu nhìn lại. Từ xa, tôi vẫn thấy bà cụ đang chống gậy lần từng bước lom khom qua đường. Lúc này không gì cần hơn là một tiếng thở dài...
Và tôi còn tiếp tục nghĩ lan man, nghĩ vớ vẩn nữa nếu không nghe thấy tiếng chào:
- Chào ông.
Người đàn bà tay cầm quyển sách nhỏ đứng bên thành cầu tự giới thiệu:
- Tôi là người trong ban truyền giáo hội thánh Tin Lành. Tôi thấy ông vẫn
thường đi qua đây vào giờ này. Nhìn dáng đi và nét mặt ông, tôi đoán biết ông có nhiều chuyện buồn.
Tôi nói:
- Dạ.
- Mai chủ nhật, vào lúc 5 giờ chiều, ông đến chia sẻ với chúng tôi tại nhà thờ, chúng ta cùng nhau cầu nguyện. Đấng cứu thế, người đã chết và sống lại sẽ nâng đỡ ghánh nặng cho ông.
Giọng nói ân cần, hiền hậu. Nhưng sao... tôi thấy người đang đứng trước mặt tôi bỗng dưng đẹp lạ kỳ, đẹp xán lạn. Vẻ đẹp của thánh thiện và lòng tin, vẻ đẹp làm hồn tôi nhẹ lâng lâng như một cánh lông chim. Tôi đang sống trong những trang thần thoại. Thần Linh đã sai sứ giả của người đến gặp tôi với ơn thiêng cứu chuộc. Nhớ đến một câu hát của Phạm Duy: Gặp nhau trong vinh dự đời người. Gặp nhau dưới đức tin bao la phơi phới... Tôi hỏi nhà thờ ở đâu. Nhìn theo ngón tay người đàn bà, tôi thấy ở phía xa bên kia sông một thập giá mờ mờ in hình lên bầu trời một ngày sắp tàn.

Tôi không còn ở thành phố có cây cầu ấy nữa. Vài năm sau, một hôm ghé qua, ở lại một đêm. Đến tối, tôi lại ra cầu đi dạo. Đêm ấy không ai gọi tôi dừng lại. Tôi đứng nhìn dòng nước, nhớ đến những người đàn bà tôi đã gặp trên chiếc cầu này. Mỗi người đã đi về một hướng để sống nốt đời mình. Dòng nước phản chiếu ánh đèn mầu phố xá hai bên giòng sông, khi gió lớn, lung linh như thiên đường.

Image


24511



Image


h a i .v i ê n .g ạ c h . . . .
__________________________________________________________________________
n g u y ễ n q u a n g t ấ n


Berlin 1944.

Trận oanh tạc của phi cơ đồng minh chấm dứt đã nhiều ngày. Những đám cháy đã tắt nhưng vẫn âm ỉ khói. Những xác chết đã được mang đi. Thành phố vắng ngắt. Những ngôi nhà đổ xuống thành những hình thù quái dị, cái giống như một lão già đội mũ đang bò, cái giống như một cái đầu đàn bà khổng lồ nằm ngửa, nhe răng cười. Những bức tường rách rưới đổ chồng chéo lên nhau tạo thành những hang động kỳ bí. Đây là nơi trú ngụ của bọn chuột, gián, chó mất chủ và mèo hoang.

Lẫn trong đám sinh vật ấy là hai lão già. Nhìn thân thể teo tóp gầy gò, đôi mắt thất thần, lấm lét của hai lão, người ta biết đấy là người Do-thái. Lão già là bác sĩ, lão trẻ hơn là nhạc công dương cầm. Trong trận oanh tạc, họ là hai người sống sót trên chiếc xe chở người vào lò thiêu.

Hai lão sống với nhau trong một cái hang tối được tạo nên bởi những bức tường đổ, rất kín, bên ngoài không ai biết trong đó có người, họ ngồi thì thầm với nhau trong một góc hang, không dám thắp lửa, không dám nói lớn tiếng. Mỗi khi nghe tiếng giày đinh của bọn Gestapo (lực lượng mật vụ Đức chuyên tìm bắt dân Do-thái) đi rầm rập ở ngoài, hai lão đều ngưng thở, máu như đông cứng lại vì sợ, bàn tay người này tìm bàn tay người kia, bóp mạnh. Tài sản quí báu nhất của họ là tình bạn, tình bạn của hai kẻ khốn cùng và một tờ báo có nhiều bức hình của đất nước Thụy-sĩ. Dưới tia sáng rọi xuống từ một kẽ hở trên nóc hang, hai lão già gầy gò ngồi xổm nhìn hàng giờ vào tờ báo. Khi cả thế giới quằn quại trong máu lửa, Thụy-sĩ vẫn rực rỡ những đêm đèn mầu, những mặt hồ sớm mai xanh thẳm, nhấp nhô buồm trắng với thiên nga...

Cũng như chuột, gián, chó mất chủ và mèo hoang là những cư dân cùng chung sống trong hang, hai lão cũng phải đi kiếm ăn. Ra khỏi hang đi lang thang kiếm cái ăn trong lúc này là vô cùng mạo hiểm, vô phúc mà gặp bọn Gestapo là xem như tàn đời. Nhưng không đi thì đói. Đã gần hai ngày rồi không có miếng nào... Cách kiếm ăn duy nhất của hai lão là sục sạo trong những căn nhà đổ nát mà chủ nhân đã chết hay đã di tản khỏi thành phố, tìm bất cứ cái gì còn ăn được, thường là gói bột mì, lon đồ hộp móp méo, củ khoai tây... Một ngày, lão trẻ bị sốt nặng, lão già phải đi một mình vừa để kiếm ăn vừa để kiếm thuốc chữa bệnh cho bạn. Lão mang máng nhớ có lần đi ngang qua một tiệm thưốc tây bị cháy, hy vọng còn được vài viên thuốc lửa còn bỏ sót. Nhưng đi một mình, lão không yên tâm. Mấy ngày hôm nay bọn lính Đức đi tuần quá, để bạn đau ốm nằm một mình, nhỡ ra có chuyện gì... Vừa ra khỏi cửa hang vài bước, lão lại quay vào dặn lão trẻ:
“Trước cửa hang tôi có xếp hai viên gạch thẳng góc với nhau, nếu chẳng may anh bị lính Đức bắt,thì khi đi ra, anh làm như bị vấp, đá cho hai viên gạch lệch đi, lúc về tôi biết là anh đã bị bắt rồi.”

Khi ngồi xếp hai viên gạch cho thẳng góc với nhau, lão già buồn rầu nghĩ: Không biết làm thế này để làm gì... có biết cũng thế mà thôi.

Đi được một quãng, lão già quay đầu nhìn lại, thấy lão trẻ đã lần mò ra cửa hang, mặt đỏ bừng trong cơn sốt, tay chống vào tường run lẩy bẩy nhìn theo, đôi mắt lo âu. Lão già thở dài, phất tay ra hiệu cho bạn đi vào, nhìn trước nhìn sau, bước đi. Vừa đi vừa lẩm bẩm, không biết lão cầu nguyện hay nguyền rủa.

Thật là may mắn. Lão tìm ra hiệu thuốc, và vẫn còn nhiều hộp thuốc chưa bị cháy. Là bác sĩ, lão già tìm được ngay những thứ mình cần. Nhưng còn may mắn hơn, lúc đi ra khỏi tiệm thuốc, mắt trước mắt sau đề phòng lính Đức, lão thấy một con chó chui ra từ một cái lỗ dưới chân tường, mõm ngậm một khoanh xúc xích. Thế là lão chạy đến, nằm úp xuống, chui ngay vào cái lỗ mà con chó vừa chui ra. Ôi chao! Cả một kho tàng: Bơ, phó mát, xúc xích, thịt hộp, cá hộp và cả rượu nữa. Đây đúng là một cửa hàng thực phẩm, tuyệt vời! Lão cởi quần ngoài, buộc túm hai gấu lại, nhét đủ thứ vào, không quên hai chai rượu ngon nhất, chui ra, nhìn trước nhìn sau thấy an toàn, lão vác hàng lên vai, lom khom xiêu vẹo đi. Phố vắng. Đến trước cửa hang thì mệt lả vì vác nặng, nhưng trong lòng lão rất hân hoan. Thuốc này tốt, chỉ cần một liều mạnh là lão trẻ sẽ dứt cơn sốt trong vòng một giờ, rồi tiệc sẽ bày ra, rượu sẽ làm quên hết, quên hết!

Nhưng lão lạnh toát người khi thấy hai viên gạch. Một viên vẫn nằm chỗ cũ, một viên lăn lóc dưới thềm. Lão nhìn hai viên gạch cách xa nhau mà đau đớn như chính thân thể của mình bị đứt lìa. Tim đập mạnh, lão hoang mang bước vào. Không còn cái sinh vật gầy guộc dúm dó trong cơn sốt nằm ở góc hang nữa. Trên mặt đất, rải rác tàn thuốc lá của bọn lính Đức. Cái hang không rộng lắm, nhưng bây giờ lão thấy mênh mông như một ngôi đền vắng. Bên ngoài nắng đã lên cao, một tia nắng đi lạc chiếu xuống tờ báo có những tấm hình của nước Thụy-sĩ với những đêm thái bình chan chứa đèn mầu, những mặt hồ sớm mai xanh thẳm, nhấp nhô buồm trắng với thiên nga...


Image


24681



Image


n h ữ n g .v ầ n .t h ơ .c ứ u . r ỗ i
____________________________________________________________________________
n g u y ễ n q u a n g t ấ n


Để chống lại bão táp và thú dữ, đóa hoa hồng của Hoàng Tử Bé có bốn cái gai. Để chống lại khốn cùng của đời mình, tôi cũng có một cách tự vệ: Làm thơ.

1982. Nạn đói hoành hành từ nam ra bắc. Ngoài bắc có người chết đói. Lúc bấy giờ tôi sống ở một nơi gọi là Căn Cứ, ngoại ô của thị xã Long Khánh, nơi này chính là thủ đô của đói ăn và sốt rét. Rời nơi này, vào trung tâm thị xã, tôi loay hoay xin được một chân dạy nhạc ở nhà văn hóa. Vài tháng sau, người ta bắt tôi phải làm giáo án. Đã là giáo án thì phải có người kiểm soát giáo án, nhưng từ ông giám đốc cho đến ông bảo vệ của nhà văn hóa chẳng ông nào biết nốt đen, nốt đỏ, nốt tròn, nốt méo nó như thế nào, thành ra giáo án có làm ra thì cũng để chiêm ngưỡng cho nó oai vậy thôi. Vài tháng sau nữa tôi bỏ việc. Lý do: Đủ mọi lý do, trong đó có lý do là vẫn tiếp tục đói.

Bỏ việc mà không tìm được việc mới thì là thất nghiệp. Thất nghiệp vào lúc bấy giờ có nghĩa là ngày không có cơm ăn và đêm không có chỗ ngủ. Tình trạng sống của tôi lúc bấy giờ là thế đó. Lây lất. Nhưng không phải chỉ có mình tôi. Nhiều lắm.

Cùng hoàn cảnh với tôi là một anh bạn trẻ mới quen, nhỏ hơn tôi mười tuổi. Gầy gò, da trắng xanh, rất thư sinh, yêu thơ và tính tình thật thà, hiền lành. Gương mặt anh ta có đặc điểm là đôi mắt. Đôi mắt to, tròn với làn mi dài và cong. Tuyệt đẹp. Ít có người con gái nào có được đôi mắt đẹp như thế. Những đồng bạc cuối cùng, chúng tôi mua hai cái cuốc và xin được một chân cuốc đất mướn cho một cái rẫy trồng cà phê. Không làm nhạc sư thì làm phu cuốc đất cũng được. Chẳng sao.

Và tôi vẫn làm thơ. Những vần thơ không cho áo cơm nhưng lại làm cho đau khổ kiếp người có chút lãng mạn để có thể chịu đựng được mà không phát điên hay tự sát. Những vần thơ cứu rỗi.

Một buổi chiều, việc đã xong, chúng tôi ngồi trên một tảng đá nhìn nắng tắt trên ngọn cây, tôi ngậm ngùi đọc câu thơ của Phạm Thiên Thư: Tiếng nàng hát vọng đôi câu. Dừng tay cuốc mướn lòng sầu vẩn vơ... Nguyên văn câu thơ là: Dừng tay viết mướn nhưng tôi sửa lại thành Dừng tay cuốc mướn cho hợp với hoàn cảnh. Đồng nghiệp của tôi mở to hai mắt:
-Hay quá! Thơ của ai mà hay quá vậy anh?
Biết rằng câu thơ đã đánh trúng tâm trạng anh chàng. Tính trẻ con, tôi cười, vênh mặt lên, nổ như lựu đạn:
- Của tao chứ của ai! Chỉ có tao đây mới làm được những câu thơ hay như thế!
Hắn khẩn thiết:
-Em muốn có câu thơ ấy với lời đề tặng và chữ ký của tác giả. Anh cho em nhé? Anh đúng là bậc thầy...
Tôi cười hì hì:
-Vậy thì tối nay mang lễ vật đến nhà Thầy cầu khẩn, Thầy sẽ ban cho một câu thơ...

Cứ tưởng đùa cho vui thế thôi, không ngờ tối hôm ấy hắn tìm đến thật, đến cái chỗ tôi ngủ nhờ. Lễ vật hắn mang đến dâng “Thầy” gồm có: Một quyển vở học trò, một cái bút bi, một gói cà phê, và một gói thuốc lá. Trị giá của những cái này có thể bằng một ngày công cuốc đất. Rồi trên chiếc giường gỗ mục, dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu, Thầy nằm úp, chổng mông vào vách nhà, hí hoáy viết, không phải một câu thơ mà là cả một bài thơ dài Thầy ăn cắp. Bài thơ ấy nó như thế này:
Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn
Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu
Tiếng nàng hát vọng đôi câu
Dừng tay cuốc mướn lòng sầu vẩn vơ
Lều tranh còn ủ chăn mơ
Mối tình là một bài thơ vô đề
Ẩn Lan ơi! mái tóc thề
Gió xuân nay có vỗ về suối hương
Đêm nao ngồi học bên tường
Nến leo lét lụi, chữ vương vất chìm
Ngoài song thoảng tiếng hài im
Như trăng buông hạt tơ chìm kiêu sa
Lan cười đưa đến cho ta
Sợi dài tóc buộc chùm hoa ngâu vàng
Sách thơm áp má mơ màng
Tỉnh ra hương thoảng bóng lan chập chờn
Nhớ khi em dỗi em hờn
Hai ta chia sẻ nắm cơm cháy vừng
Nhớ đêm nằm võng ngó trăng
Đếm ngôi sao sáng lại rằng sáng sao
Giọng em lanh lảnh tiếng cao
Răng em tươi hạt ngọc nào long lanh
Nền trời mây lại qua nhanh
Viền trăng vương phải đầu cành vỡ tan
Những đêm trời tối như than
Bắt con đom đóm trên giàn mồng tơi
Cho em, em cất tiếng cười
Hất tay em thả đóm trời tung bay
Vòi ta đuổi bắt lại ngay
Thả đi, đòi lại mãi đầy đọa nhau
Gọi em là đóa hoa sầu
Lan đòi nụ bưởi cài đầu làm duyên
Nhặt son trên núi mài nghiên
Thơ anh em điểm dấu son màu hồng.


Thật lòng, tôi thấy bài này chỉ có mấy câu đầu là hay, rất hay, nhưng đọc tiếp xuống dưới cũng thường, chẳng có gì, thậm chí hai câu cuối còn sai âm luật nếu tôi nhớ đúng, nhưng khi ký tên mình ở dưới, tôi thấy xấu hổ quá. Sự xấu hổ của tôi càng tăng khi anh bạn tôi mở to đôi mắt đẹp với hàng mi dài như mắt con gái, xúc động và trịnh trọng nhận lấy quyển vở bằng cả hai tay với lời cảm ơn.

Đêm ấy tôi trằn trọc đến khuya không sao ngủ được, dằn vặt mình. Đùa vui quá đáng thành ra lừa gạt một người bạn hiền lành thơ dại. Tôi tự trấn an mình:
- Thôi, vài ngày nữa, khi niềm hưng phấn của hắn đã nguội, mình sẽ xưng tội với hắn như thế này:
-Tao nói đùa đấy, có phải thơ tao đâu. Thơ Phạm Thiên Thư. Tao làm thơ còn hay gấp mười lần như thế ấy chứ! Phạm Thiên Thư đối với tao chẳng là cái đinh gì!
Nghĩ vậy, tôi thấy lương tâm đỡ cắn rứt. Thiếp đi.

Nhưng mãi mãi tôi không còn cơ hội để nói với hắn câu ấy, vì ngay sáng ngày mai, sau một trận nôn ra máu, tôi được chở đến phòng cấp cứu của bệnh viện với bệnh án: thủng bao tử, phải giải phẫu. Hậu quả của sự ăn uống ngày no ngày đói.

Sau vài tháng lê lết ở nhà thương thí, tôi xanh xao rách rưới tìm về thì biết là hắn đã chết rồi. Ngã từ trên ngọn dừa xuống đất. Người ta kể lại rằng: Sau khi tôi đi vài ngày, hắn bỏ việc cuốc đất, qua việc hái dừa. Hắn nói là hái dừa nguy hiểm nhưng có thêm chút tiền để vào bệnh viện thăm tôi. Thế rồi từ trên ngọn dừa cao mười mấy thước hắn rơi xuống. Vỡ nát nội tạng, máu mũi, máu miệng trào ra. Chết ngay. Tôi đau đớn lắm nhưng lại mừng cho hắn. Cõi đời khốn khổ này có gì nữa đâu mà cứ ôm ghì lấy nó mãi!

Chiều trong nghĩa trang. Đứng trước nấm mồ, sau câu kinh lạy cha chúng con ở trên trời, và sau những cành nhang đang lặng lẽ tỏa khói, tôi hình dung ra một gương mặt ngây thơ, đôi mắt đẹp mê hồn với hàng mi dài như mắt con gái, thì thầm:
- Tao nói đùa đấy! Có phải thơ tao đâu...


24995 top -
_______________________________________________
Có Khi Nào? - thơ - Trần Thị Mai Hân _______________________________________________

Image

Ta về lặng lẽ một mình ta
Khắc khoải mơ xa mộng nhạt nhòa
Phận hẩm hương đời màu bạc mốc
Đầy lên chất chứa tháng năm qua.

xem tiếp...

_______________________________________________
Ngẫu Hứng - văn - Hoàng Vũ Luân _______________________________________________

Image

Áng mây hồng phản chiếu giọt lệ lung linh, nâng chén nước trong mà khiến cung đàn say chếnh choáng. Phổ vào làn sương đang đọng trên lá cỏ cũng khiến xao động cả hồ thu. Lòng thanh thản nhìn lá xanh giữa mênh mông gió, tạ ơn người đã trao duyên thơ dưới vòm trời đầy.

xem tiếp...

_______________________________________________
Nhoà Vết Chân Đi - nhạc - npn _______________________________________________

Image

mai về nâng xác lá
đứng im bên giòng sông
nghe tim mình mở rộng
xin yêu em thật lòng
xin yêu em như sóng
nhòa lên vết chân đi...

xem tiếp...

_______________________________________________
Tháng Ba - ảnh - Yên Chi _______________________________________________

Image



xem tiếp...