THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image
b ê n- l ề- s á n g- t ạ o

------- t r ê n -l i ê n- m ạ n g

____________________________________________________________________________




Mỗi khi đón nhận hay thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, tôi thường tìm hiểu động lực nào thúc đẩy tác giả hoàn tất tác phẩm của mình. Bởi niềm rung động trong tôi sâu lắng hơn khi tôi biết tại sao Vincent VanGogh vẽ Starry Night. Bởi niềm cảm nhận trong tôi vời vợi hơn khi tôi biết tại sao Tô Thùy Yên sáng tác Chiều Trên Phá Tam Giang.

Ngoài những nhận xét về hình thức cũng như nội dung của một người thưởng thức, tôi muốn biết tại sao giữa thời buổi nghệ thuật văn chương đang bị lạm phát này, lại có một tác phẩm như thế ra đời. Hơn thế nữa, trong thế giới hỗn tạp của nền văn hóa liên mạng, nơi mà thơ văn nhan nhản những sáng tác làm-nhanh-gửì-nhanh-hơn, lại có sự ra đời một đúc kết nghệ thuật thật lẻ loi và khan hiếm như vậy.

Ngay từ khi câu hỏi được đặt ra, tôi đã tìm được câu trả lời. Nó không nằm đâu xa, mà ngay trong tâm thức. Câu trả lời xưa như trái đất. Giản dị. Và hơi phũ phàng. Tôi nghiệm ra rằng trong môi trường sáng tạo nghệ thuật, đa số thuộc thành phần thưởng thức. Một số ít sáng tạo cho một số đông đón nhận. Ở thế giới liên mạng, sự thưởng thức đôi khi đã đi đến tình trạng hưởng thụ. Xem nào. Tôi ghi tên vào một vài diễn đàn thơ văn để mỗi ngày nhận được vài bài thơ, truyện ngắn của ai đó gửi lên. Thấy hợp thì đọc. Không thích thì tôi loại bỏ. Không có giờ thì tôi cất nó vào hồ sơ lưu trử điện tử, khi nào hứng (và rảnh) thì lôi chúng ra đọc.

Tôi nhận thức trong sự tiện lợi và nhanh chóng của kỹ thuật liên mạng, tất cả mọi thứ đều được quảng bá hay phổ biến đến mình mà không cần tôi phải nhọc công đi sưu khảo tìm tòi. Ðã tự bao giờ, tôi đã không tìm đến tiệm bán sách quen thuộc gần nhà, để thấy hạnh phúc khi tìm được một cuốn sách cũ kỹ nằm khuất trong một góc tủ nào đó. Ðã tự bao giờ, tôi không còn đi đến viện bảo tàng để thưởng lãm và nhận thức những tác phẩm hội họa chỉ vì mình thật sự trân trọng các tác phẩm và muốn tìm hiểu thêm về tác giả.

Nghệ thuật sáng tạo vốn là một con đường hai chiều. Người sáng tạo trao đi và người thưởng ngoạn tìm đến. Nhưng trong thế giới liên mạng, sự tìm đến của người thưởng ngoạn thật hiếm hoi. Nó chỉ còn là sự đón nhận và tiêu thụ. Và ở đó, nghệ thuật trắc trở, sáng tạo nhọc nhằn.

Hóa ra, trong thế giới liên mạng, sáng tạo và nghệ thuật cũng do một số ít tác tạo cho một số đông đón nhận. Và trong số đông đón nhận đó, số người đam mê nghệ thuật đủ để tự tìm đến, để nâng niu, để ghi khắc, lại rất hiếm hoi.

Nghệ thuật vốn mang một nghiệp dĩ đơn duy. Sáng tạo tự nó là một hành trình cô độc. Niềm vui của những trái tim cưu mang nghiệp dĩ đơn duy đó là bắt gặp những đón nhận (và ghi nhận) tương xứng từ người thưởng thức. Hạnh phúc của những linh hồn chọn bước đi vào hành trình cô độc của sáng tạo là biết có người tìm đến để chia sẻ từng thông điệp được phó thác vào mỗi tác phẩm.




npn





5420




Image


m ả n h- v ư ờ n

____________________________________________________________________________




Qua Mỹ được bốn năm gia đình tôi mới mua được một căn nhà. Lúc mới xuất trại, chúng tôi được một nhà thờ Tin Lành bảo trợ về ở Wisconsin. Thành phố nhỏ chỉ có mỗi gia đình tôi là người Việt. Người ta lo cho đủ thứ áo quần, chén dĩa, nhà cửa, ti-vi, tủ lạnh... Ba tôi đi học nghề theo chương trình trợ cấp của chính phủ cùng với hai anh lớn của tôi. Mẹ tôi buồn bởi chuyện hai anh tôi phải đi học nghề lắm, vì người muốn mấy ảnh đi học đại học tiếp tục. Nhưng vì tiếng Mỹ thì không rành, mà tiền cũng không có. Nên đành. Hai năm ở đó chẳng có gì lạ. Đến khi ba tôi mãn khóa, mẹ tôi bảo là ở đó buồn, ít đồng bào, mùa đông thì quá lạnh - nên người muốn dọn về phía Nam. Cũng lạ, suốt hai năm mẹ tôi chịu lạnh không thấu mà vẫn cắn răng chịu đựng cho ba tôi yên tâm đi học nghề, không nói một câu nào cho đến hôm đó. Sau nầy tôi mới biết lý do. Lần đó mục sư nhà thờ dụ tôi và em gái tôi vô đạo. Nhà tôi đạo Phật. Hai đứa tôi về kể lại, cả gia đình bàn thảo. Rồi không hiểu vì sao tôi và em gái tôi cãi nhau. Bằng tiếng Mỹ. Và mẹ tôi biết mình phải làm gì.

Khi về Houston, chỉ cò anh Hai tôi được việc làm trước nhất. Làm thợ tiện, đúng với nghề học. Ba tôi cũng chạy xuống hãng đó xin việc làm cùng với anh Ba tôi. Được cả hai. Ba tôi cũng đi làm thợ tiện. Anh Ba tôi học kỹ-nghệ-họa, nhưng cũng được cho đi quét sắt vụn. Gia đình tôi ở chung cư. Được hai năm sau cả nhà quyết định phải mua nhà - "Chứ không lẽ cứ đưa tiền cho nó mà lúc đi chẳng có cái gì trong tay". Mẹ tôi hay nói thế. Cái-gì-trong-tay đó là cái nhà chúng tôi đang ở hiện nay. Nghĩ cũng buồn cười. Cái nhà phải trả nợ đến ba mươi năm mới là của mình, nhưng mẹ tôi vẫn thích những cái-tạm-là-của-mình đó.

Những tháng năm kế tiếp, tôi và em gái tôi vẫn lớn lên như bao đứa trẻ Việt Nam khác. Nghĩa là vô trường nói toàn tiếng Mỹ, về nhà "thỉnh thoảng" chêm tiếng Mỹ vô tiếng Việt. Mẹ tôi rất hãnh diện với sự "thỉnh thoảng" đó, bởi dù sao con mình cũng ít nói tiếng Mỹ ở nhà hơn những đứa trẻ khác.

Nhà tôi khá rộng, nhưng khu vườn quanh nhà thì rất hẹp. Gọi là vườn, chứ thật ra, chỉ có một vùng đất nhỏ trước mặt tiền. Những phía còn lại thì chỉ là hai, ba thước đất bọc bởi hàng rào bằng gỗ. Vậy mà mấy năm sau, ba mẹ tôi đã trồng được đủ thứ rau, trái - mỗi thứ một ít. Trên thì giàn mướp, khổ qua, bầu... Dưới đất thì quế, hẹ, bạc hà, rau răm, húng cây, húng nhủi. Buồn cười em gái tôi. Lúc đầu, mẹ tôi bảo ra vườn cắt rau là sớm muộn gì cũng phải ra cắt lấy. Bởi em gái tôi nào biết rau nào tên gì đâu mà cắt. Mẹ tôi vừa cắt, vừa chỉ. Riết cũng quen. Có điều, mỗi lần nhà ăn bún, phải cắt rau cho mẹ, em gái tôi vừa đi, vừa nói lầu bầu một mình: "Húng nhủi !... Rau gì tên kỳ cục..." Vậy đó, mà cắt cũng trúng.

Ba tôi lúc nào cũng vậy. Mỗi buổi chiều đi làm về, vô thay đồ, mặc cái quần đùi dài tới đầu gối (mẹ tôi đã cắt hai ống sau một lần bị rách), ra sau vườn loay hoay mãi cho tới khi ăn cơm mới vô. Người ngắt đọt quế, hẹ cho mau lên. Người bắt ghế lung lay giàn mướp, giàn bầu, coi có chắc chắn không. Rồi sửa lại vị trí của trái mướp nầy cho nó khỏi bị cấn, cột lại giàn bầu chỗ kia, hoặc lấy vỏ trứng gà vùi quanh gốc cây ớt, cho nó cay (?). Thậm chí, mỗi lần nhà ăn tôm, người luộc đầu tôm đem chôn dưới đất. Cho tốt. Cũng may là đầu tôm luộc, chứ nếu là đầu tôm sống chắc láng giềng họ kiện cho chết luôn, vì mùi biển quá nặng. Cuối tuần ba tôi hay đi họp lung tung. Ba tôi xưa là lính, hơn hai mươi năm. Những lần đi như thế, người bảo tôi ở nhà tưới cây, tưới rau. Tưới cây là một cực hình với tôi. Nào là giàn bầu, giàn mướp phải tưới gốc cho thiệt ướt, rồi phải tưới lên trên giàn nữa. Rau thì phải tưới nhè nhẹ, kẻo trôi đất, tróc rễ. Còn mấy bụi hồng trước nhà ba trồng cho mẹ nữa. Phải vặn vòi nước thật nhẹ, tưới lên lá, lên hoa "như sương" cho tươi lâu hơn. Đó là chưa kể lâu lâu bị kiến cắn. Nhà tôi có một ổ kiến lửa khá to sau vườn. Mẹ tôi không cho phá đi, sợ tội sát sinh. Ba tôi không đồng ý, nhưng cũng chìu theo ý mẹ. Mẹ bảo để nhìn nếu kiến dời tổ là biết khi nào có mưa lớn. Lúc đoán đúng thì mẹ nhìn ba nói: "Anh thấy chưa !". Còn khi nào đoán trật thì mẹ lại bảo: "Tại vì con kiến Mỹ nó... ngu hơn kiến Việt Nam !". Lúc đó, ba tôi thường ngó tôi nháy mắt cười hóm hỉnh. Hình như mẹ tôi cũng muốn cười lắm, mà cố làm nghiêm.

Cách đây mấy năm, bão Allen thổi vào Texas. Lúc đó ba tôi đi họp xa, gọi điện thoại về nhà bảo tôi cột chặt lại giàn mướp, giàn bầu cho chắc - kẻo không gió thổi sập hết. Tôi dạ dạ, vâng vâng. Nhưng rồi lại quên hẳn đi vì mê coi ti-vi đến khuya. Sáng hôm sau, khi bão tan, ba tôi về lúc tôi còn đang ngủ. Người ra sau vườn lui cui một mình lấy cây gỗ chặt nhỏ làm lại giàn mướp bị bão thổi sập đêm qua. Mẹ tôi thì đã lục đục trong bếp từ sáng sớm, như ở Việt Nam, để khi ba tôi về có cháo ăn sáng cho khỏe sau chuyến lái xe đi họp xa. Tôi thức dậy trời đã sáng hẳn, nghe tiếng ba tôi đang chẻ cây sau vườn. Sực nhớ tới giàn mướp, tôi tốc mền chạy ra - Ba tôi đang ngồi chẻ cây bằng con dao sắt mà anh Hai tôi đã làm trước khi bỏ nghề thợ tiện để đi học lại đại học. Thấy tôi, ba nói: "Thằng Út ! Vô nhà thay đồ đi, rồi ăn sáng. Mẹ có cháo ở trỏng.". Và tôi chết sửng, tưởng sẽ bị la một trận nên thân. Nhưng không. Hình như ba tôi đã đoán trước định mệnh giàn mướp của người. Tôi vô nhà sửa soạn, thay đồ. Vừa tính ra phụ ba thì mẹ tôi đã gọi ngược lại, bắt ăn hết tô cháo lót lòng rồi mới cho đi ra vườn. Khi ra đến nơi, ba tôi đang đứng trên ghế chấp cây làm lại giàn mướp. Người bảo tôi đứng ở dưới chuyền cây lên để cột cho lẹ. Dưới ánh nắng vào trưa, bóng của ba tôi vô tình ngả lên chỗ tôi đứng. Và tôi chợt muốn khóc, thấy mình thật có tội. Ba tôi vừa làm, vừa nói với tôi:
- Sửa lại giàn mướp cho con Út (em gái tôi) có mướp ăn. Út nó thích mướp. Tội nghiệp, lúc đi còn quá nhỏ nên nó đâu có biết mướp ở bển ngọt ra sao. Con may mắn hơn em, sinh trước mấy năm, nên còn nhớ.

Từ đó, tôi biết thương cái vườn. Tôi biết niềm vui những khi ra sau vườn, tìm được một trái mướp mới, còn non nằm núp sau đám lá rậm. Mỗi lần nhà ăn tôm, tôi cũng biết tự động xách cái xẻng theo ba tôi mang đầu tôm luộc ra sau vườn chôn dưới đất. Cho tốt.

Mùa đông năm nay sắp đến. Hôm qua ba tôi cùng tôi bứng rau bỏ vô chậu nhỏ đem vô trong nhà để làm giống cho năm sau. Người đem cỏ khô để dành từ những lần cắt cỏ mùa hè phủ lên khoảng đất đang trụi dần, bảo làm như vậy mùa xuân năm sau rau sẽ mọc nhiều hơn. Nhìn khoảng đất đầy cỏ khô, người nói với tôi:
- Từ đây về sau con ráng lo vườn rau cho mẹ. Ba sẽ bận nhiều hơn. Hai anh con còn đi học. Con may mắn hơn hai anh, được học hành suông sẽ. Bây giờ đi làm trước thì lo lại cho mẹ và em. Đừng như ba hồi đó sớm xa nhà, bây giờ có muốn lo cho bà nội, bà ngoại, chú Sáu, cô Bảy của con cũng không làm sao được. Con lớn rồi, đủ để hiểu những điều ba nói, những chuyện ba đang làm. Ba già rồi, nhưng ba không muốn chết già bên nay. Còn con Út nữạ Ba muốn nó được tự do ăn cây trái, rau cải bên nhà. Rau trái trồng bên này ăn hổng ngọt bằng bên bển. Con hiểu không ?
Tôi gật đầu, nhớ lại những lần ba tôi bàn với mẹ về một chuyến đi xa, sau kỳ đi họp mùa bão năm nào. Em gái tôi, lúc đó, từ trong nhà bước ra. Một tay cầm rổ, tay kia cầm con dao nhỏ để cắt rau. Vừa đi, vừa nói lầu bầu một mình:
- Rau húng nhủi !... Tên gì kỳ cục...
Tôi ngó ba tôi. Ánh mắt người nhìn em gái tôi thật hiền từ. Chợt tôi nghe thương ba, mẹ và em gái tôi thật nhiều. Và tôi bỗng dưng thèm được cùng có mặt trong một chuyến đi xa nào đó, sẽ đến, với ba tôi.



Văn Học Nghệ Thuật 1985
chép lại và bổ túc tháng 1, 1996



npn





5511



Image

T Ô I - C Ù N G - G I Ó - M Ù A
n h ữ n g -c ả m -n h ậ n -t ừ -3 -l ầ n -đ ọ c

(nhà xuất bản Văn Học phát hành - California, Hoa Kỳ - 1998)
____________________________________________________________________________


...
nửa thế kỷ
soi bóng tôi
trên những trang thơ nức nở này
Nguyễn Xuân Thiệp



1.
Tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa của Nguyễn Xuân Thiệp đến tay một chiều đi làm về muộn. Ăn uống, dọn dẹp xong thì đã khuya. Mở ra lần thứ nhất, đọc thật kỹ. Ghi nhận nhiều điều ở mặt lý trí. Trình bày đẹp, kỷ thuật dùng chữ sâu sắc, không có những ca khúc đầy ký âm chi chít của các bài thơ được phổ nhạc.
Những bài thơ được sắp xếp theo thứ tự thời gian, cho thấy sự chuyển mình của đời thơ tác giả.
Không lời tựa hoặc lời kết. Hiểu rằng - tác giả sẽ nói những gì cần nói qua những bài thơ mình. Khiêm tốn. Tự tin.
Bên trong, chỉ có thơ. Và thơ... và thơ... và thơ...



2.
Hai đêm sau. Một tối cuối tuần. Sau khi vợ con đã yên giấc, thức khuya trong tỉnh lặng chậm rãi đọc từng trang Tôi Cùng Gió Mùa. Nghiệm ra đôi điều.

Thường, khi đọc một tác phẩm thơ (hoặc khi đọc bài viết về một tập thơ), thường tìm (hay được trích dẫn) một vài câu thơ hay của tác giả. Ðiều này không đúng với thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Nói như thế không có nghĩa là thơ Nguyễn Xuân Thiệp không có những câu thơ hay. Có, nhiều nữa là khác. Nhưng để trọn vẹn cảm nhận tâm tình của tác giả, những bài thơ của Nguyễn Xuân Thiệp đòi hỏi người đọc phải ôm ấp cả bài thơ vào hồn, không phải chỉ vài câu ưng ý xuất hiện đâu đó trong mỗi bài. Hết cả cuốn thơ có phân nửa là những bài thơ dài, viết theo thể thơ tự do. Một hai câu thơ trích ra làm sao chuyên chở hết tâm tình.

Như tâm tình của một người lưu vong giữa quê hương mình, giữa ký ức và lương tri mình:

em mặc áo lụa
em hái cho ta một đóa tường vi
bông tường vi bây giờ vẫn nở
như cuộc đời. như ánh sáng. như tiếng chim
riêng chúng ta chẳng còn dừng lại
mây chân trời và sóng lãng du
tiếp tiếp trôi đi dòng thủy ngữ
mưa
những giọt mưa rơi qua trời sáng
rớt xuống ao hồ, nở những búp sen
mưa trong khu vườn ủ mật
thoảng qua trí tưởng. mùi trái chín
và men rượu
đâu ly rượu óng vàng em đã uống
cùng ta như uống ngọt ngào
cay đắng. trước ngày chia tay.
trong đêm lễ nến
mưa và đèn trên sông
chân sóng đẩy đưa. ta đi trên đường
biệt xứ
mang trong hồn chút bóng đêm. và
lửa nến xanh của thành phố quê nhà
(Mưa Ở Ðây Như Mưa Ở Quê Nhà)

Như tâm tình của một tù nhân hụt đắm trong cơn hồng thủy của tử sinh, trong nghiệt oan của thời cuộc:

buổi chiều vớt sỏi dưới lòng sông Giăng
ta cười trong tiếng sóng
ai kia đưa ta lên rừng
ai kia đưa ta ra đầu ngọn suối
tượng đài người đọ được với thời gian
tiếng cười ta
đánh thức lớp cuội mòn chiều nay
bia đá nghìn năm bồi hồi xao động
nói gì với mai sau
nói gì với các thị trấn bên bờ nước biếc
một tiếng cười dài vang vọng hư không
buổi chiều kéo gỗ bên bờ sông Giăng
ta đọc bài cổ thi
giữa chừng bỗng ngưng. lời tan trong gió
lòng ta ơi. mãi không yên
nghìn năm. cơn đau sóng vỗ
chiều bên sông Giăng. và ta
chiều động giấc mơ ngàn
hồn ta theo trăm cây gỗ lớn
gập ghềnh lối voi đi. trâu kéo. mưa nguồn
giăng giăng bến cát
những ngày qua nằm dưới cơn mưa cố lũy
trắng trời lau thưa
mắt gỗ vàng và mắt ta qua thế kỷ
đã thấy vết chàm in sậm mặt người
(Chiều Bên Sông Giăng)

Như tâm tình của một cuộc đời đau nhức từng vết thương hằn học của hận thù, nhưng vẫn cưu mang miệt mài những mơ ước thuần chân:

giữa cuộc bạo hành. cơn sốt dữ
nỗi đau này cháy vỡ thịt da
thử ngẩng nhìn trăng đêm phán xét
ai công. ai tội. dưới trời khuya
ai xô trăm họ vào gai gốc
ai hái dâng đời một đóa hoa
hãy xét trong cơn đau lịch sử
nỗi đau nào đau của riêng ta
áo quan chưa đóng. thời chưa hết
có kẻ cùng ta thức đợi chờ
nay dẫu đường đi đôi dặm khuất
trăng treo dầu ngõ. thấy quê nhà
(Ánh Trăng)

Ðiều nữa. Những rung động của người đọc thường đến khi đọc được một bài thơ hợp ý. Ðó là những tác dụng từ bên ngoài. Ðiều này cũng không đúng với thơ Nguyễn Xuân Thiệp . Hay chỉ đúng phân nửa. Lắng nghiệm sau lần đọc thứ nhì, thơ Nguyễn Xuân Thiệp đã bốc hơn và liệm kín hơn, khi đọc lại với những rung động đã thức dậy, đã sẵn trong linh hồn. Ðể từ đó, bài thơ là nhịp tim, là hơi thở.

Có nghĩa là hãy mang tâm hồn miên viễn để đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, chứ không phải là đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp để xót xa thân phận lạc loài:

gió trời
đã thổi
chim hãy bay đi
và mang về cho ta. từ miền đất khổ. một
cọng rơm màu vàng
để ta thấy lại
mùa gặt nơi quê nhà
mùi đất
và cỏ
ngọn lửa giờ này đang cháy âm u trong
thôn lau lách
sáng nơi này
xa kia là hoàng hôn
màu tường vi trong thơ cổ
chim ơi
về xứ hoàng hôn
hồn ta đầy gió
(Con Chim Màu Ðỏ)

Có nghĩa là hãy mang lòng khắc khoải trầm luân lịch sử để đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, chứ không phải là đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp để thấy nỗi buồn quá khứ trồi lên:

hỡi gió mùa
đã cùng ta gặp lại
nhớ không
lần đầu tiên chia tay cùng người
mà lịch sử đã có dư nghìn tuổi
mà hôm nay ta lại gặp ta
người lại gặp người
trong nỗi bàng hoàng
trong cơn sốt vỡ da
hỡi gió mùa
đã thổi từ cội nguồn xa tới cửa hiện thời
thổi qua những rặng núi. những dòng sông.
những xóm làng. thành phố
quê hương tôi
đã đến đây chiều nay gặp lại
trong ký ức âm u của đời tôi
đã có những cơn gió mùa chợt dậy
đã có cơn gió mùa thổi qua thành
quách cũ
thấp thoáng bóng ngọn cờ
đã có cơn gió mùa thổi qua hàng hàng
bia mộ
những mặt người thiên thu
(Tôi Cùng Gió Mùa)

Có nghĩa là hãy mang trái tim cằn khô đã lần tươi mát để đọc thơ của Nguyễn Xuân Thiệp, chứ không phải là đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp dể thấy lại được mùa xuân:

đã lâu lắm dường như ta không còn trẻ nữa
con chim biếc bay rồi vườn vắng cây khô
chợt một buổi nghe dòng sông nước chảy
gọi ta về thầm kể những cơn mơ
ta bỗng thấy em đi giữa chiều áo lụa
dãy phố dài thấp thoáng bóng dù xưa
em tay dắt con mắt nhìn trời rộng mở
khi nắng reo hanh vàng mùa mới sang thu
ôi. giả sử mai đây ta về lại bên đời
dẫu chẳng còn ai biết đến ta. chẳng còn ai
đợi cửa
thì trọn kiếp ta xin làm người nghệ sĩ
rong chơi
đi đọc thơ ta giữa những vùng bụi đỏ
(Giả Sử, Mai Về)

Ðôi điều nghiệm ra ấy đã ươm mầm tri ngộ. Mọc trong tim những chồi rễ san bồi. Kết trái thành bài viết này, sau lần đọc thứ ba.




3.
Ðó là buổi sáng của một ngày cuối tuần, khoảng mười hôm sau. Ðem xe đi sửa. Mang tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa theo, vì biết phải chờ lâu. Bên ngoài cơn mưa tầm tả từ suốt đêm qua vẫn còn nặng hạt. Bên trong phòng chờ lấy xe, chỉ có mỗi mình cùng ly cà phê thiếu đường.Thỉnh thoảng, vang từ phía sau, những tiếng máy móc được vặn lên, những tiếng nện chát chúa của dụng cụ kim khí. Dù chú tâm đọc, nhưng vẫn bị chi phối. Bực mình, bỏ ra ngoài đứng nhìn cơn mưa. Trong cơn mát hiếm hoi của một sớm mai hè Texas, bỗng thèm một điếu thuốc. Nhìn tập thơ trong tay, chợt nhớ lại hai lần tao ngộ cùng tác giả.

Lần gặp gở thứ nhất, một kỳ họp mặt thân hữu ở Dallas, nghe Nguyễn Xuân Thiệp tự đọc thơ mình. Ðọc, không ngâm. Bài thơ Ánh Trăng. Giọng đọc khi trầm bổng, khi tha thiết, khi xót xa, khi tự thoại. Không! Không phải Nguyễn Xuân Thiệp đang đọc thơ của mình! Mà là đang sống với thơ mình, trong từng hơi thở tiếng thơ ra!

Lần gặp gở thứ nhì, trong một buổi trình diễn của Lê Uyên Phương tại Houston, mang tựa đề Màu Thời Gian. Gần cuối chương trình, Lê Uyên Phương giới thiệu tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa và nhắc nhở vài kỷ niệm cùng tác giả ở Ðà Lạt. Sau đó Lê Uyên Phương mời tác giả tập thơ lên sân khấu. Nguyễn Xuân Thiệp xuất hiện thật khiêm tốn. Không nói gì về tập thơ của mình, mà chỉ chia sẻ câu chuyện bên lề của một bài thơ đã được Lê Uyên Phương phổ nhạc - Tôi Muốn Yêu, Tôi Muốn Tin Cuộc Ðời. Rồi bước xuống, nhường lại phần trình diễn ca khúc đó cho Lê Uyên Phương, với câu nói cùng khán thính giả: "Bây giờ, mời quí vị hãy bước xuống từ đỉnh cao của Màu Thời Gian, và đi đến cùng mặt địa cầu khốn khổ." Ca khúc đó là một trong những bản nhạc được Lê Uyên Phương trình diễn tha thiết nhất. Và có hồn nhất.

Lại mở tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa ra dưới mái hiên của chỗ sửa xe. Lần này đọc thật trọn vẹn từ đầu tới cuối. Những tiếng động vẫn thỉnh thoảng vang lên, nhưng không còn là chi phối. Chúng trở nên thân thuộc, và cần thiết. Bởi thơ của Nguyễn Xuân Thiệp không đòi hỏi một tách rời thực tại. Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là đời sống hằng ngày. Với những mệt nhoài, những trở trăn, những tin yêu và bi vọng mà mỗi phần đời đã đem đi hay mang đến. Bất quá, mỗi người có một lối cảm nhận và ghi nhận khác nhau. Bất quá, Nguyễn Xuân Thiệp đã chọn thơ để làm điều này, cho chính bản thân mình. Sống trọn vẹn. Viết nát ý.

Gấp tập thơ lại, tiếp tục ngồi chờ trong tiếng mưa rơi. Không thuộc được câu thơ nào sau ba lần đọc. Chỉ thấy man mác, dịu đắng một niềm vui. Là biết mình đã, trong quyền năng hạn hẹp nhưng tuyệt đối của một người thưởng thức, đến thật gần cùng tác giả. Và hạnh phúc là biết rằng khi cảm giác ấy vẫn còn cuồng lưu trong mặc tưởng, tác giả vẫn còn ngồi thật gần bên cạnh. Ðể nhỏ to, để sẻ chia những niềm riêng liệm kín, những nỗi chung cưu mang. Bây giờ. Và mai sau. Bằng chính ngôn ngữ riêng của trái tim mình:

chiều ấu thơ. đi trên đường quê hương
thấy lòng mình là sông lớn
ôm đất. ôm cây
và muốn làm thi sĩ
chia sẻ bát cơm với trẻ không nhà
chuyện trò cùng người tuyệt vọng
đắp bài thơ lên những phận người
(Những Buổi Chiều Qua Trong Ðời Tôi)
...
khuya nay. còn ai đọc thơ anh dưới đèn.
xứ người. những cánh cửa đã khép
anh làm thơ. cho ngọn gió điên
cuốn bay đi. bay đi.
thơ qua hoang mạc
(Tempe, Thơ Qua Hoang Mạc)

Và nếu điều vừa nêu trên là ước ao chân thật nhất của mỗi thi sĩ, Nguyễn Xuân Thiệp đã thành công. Dẫu chỉ với tim tôi.


(Houston - 1:16 sáng, 23 tháng 8, 1998)

npn





Ðịa chỉ liên lạc:
Nguyễn Xuân Thiệp
P. O. Box 803152
Dallas, Texas 75380
sách ghi giá $15.00 (US)





5614




Image


t r ậ n- c h i ế n

____________________________________________________________________________




Tôi đang xếp lại bàn ghế của phòng học nhà thờ cho ngay ngắn thì Hào bước vào. Vừa thấy tôi, Hào hỏi:
- Sao?
Tôi mới dọn từ Idaho về đây được mấy tháng. Thấy tôi ở trên đó một mình, Hào rủ tôi xuống đây tìm việc làm để hai đứa được gần nhau. Bạn bè thân từ Việt Nam qua đây chỉ còn lại hai người. Sau mấy tháng, Hào kêu tôi đi dạy Việt ngữ cho các em. Tôi với Hào nhận dạy lớp các em từ mười bốn đến mười tám tuổi; các cô giáo đã dành hết các lớp nhỏ tuổi vì sợ học trò lớn tuổi phá phách. Và bây giờ Hào đang hạch hỏi tôi về cảm giác sau hôm đầu đi dạy. Tôi cười:
- Khó nói quá, mày ơi. Hôm đầu mà.
- Mày thích thì nói đại cho rồi. Nhìn mặt mày cười tao cũng dư biết mà.
Mà Hào biết tôi thật. Bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại ngần ngại lúc Hào hỏi tôi có muốn đi dạy hay không cách đây mấy tháng. Ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, Hào chỉ ra sân và nói:
- Chỉ chờ ba mẹ của mấy đứa nhỏ ngoài kia đến rước tụi nó nữa là xong.
Tôi ngó ra ngoài sân có hai đứa trẻ đang chơi với nhau. Và một đứa đứng riêng. Thằng Chương. Tôi nghĩ đến thằng Chương, và một câu hỏi bật ra:
- Thằng Chương, mày nói cho tao nghe về thằng Chương đi Hào.
Từ một thế ngồi thoải mái, Hào bật người dậy trố mắt nhìn tôi:
- Mày cũng nhận ra là nó lạ nữa sao? Tao tưởng chỉ có mình tao thôi chứ!
- Tao cũng không biết nữa. Thằng bé nó... làm sao ấy...
Hào nhìn thằng Chương đang đứng ở ngoài sân một mình, rồi thở dài. Hào chỉ chiếc ghế bên cạnh; tôi ngồi xuống trong khi giọng Hào cất lên thật nhẹ, thật đều:
- Mày thấy nó lạ hơn những đứa khác, phải không Nhân? Để tao kể cho mày nghe. Thằng Chương qua Mỹ cách đây sáu năm. Chỉ có hai mẹ con. Ba nó chết ở Việt Nam, nghe nói là ở trại cải tạo. Mẹ của nó giữ nhà cho một gia đình nhà giàu người Mỹ. Hai mẹ con được cho ở trong một căn phòng của ngôi nhà đó. Cách đây nửa năm tao ra chợ Việt Nam thấy nó đánh lộn với một đứa bé Việt Nam khác. Tao nhào vô can. Bà mẹ của đứa nhỏ kia la ó um sùm, chửi bới mẹ con thằng Chương bằng những lời thậm tệ. Nào là thằng mất gốc, nào là mẹ thằng Chương là thứ ở đợ, làm thuê. Tao đưa hai mẹ con về nhà. Dọc đường mẹ của Chương mới kể cho tao nghe về cuộc sống của họ.
Ngừng lại trong giây lát, Hào chậm rãi mồi một điếu thuốc rồi kể tiếp:
- Mày biết không, mẹ của Chương một tuần bảy ngày lo dọn dẹp, nấu nướng cho chủ nhà. Đêm lãnh đồ về may để kiếm thêm tiền gửi về Việt Nam giúp thân nhân. Thằng Chương qua đây năm vừa tám tuổi. Ngày ngày vô trường học với đám con ông chủ nhà cũng bằng tuổi nó. Mày thấy đó, đến như mình mà còn thỉnh thoảng chêm tiếng Anh vô tiếng Việt. Huống hồ gì nó. Nhất là ở cái tuổi mười ba, mười bốn. Mẹ của Chương cố gắng lắm đó chứ, cho nên đến hôm nay thằng Chương mới còn hiểu và nói được tiếng Việt, mặc dù nó vẫn viết và đọc trong khó khăn.
Hào đứng dậy và bước ra ngoài bậc thềm lớp học. Tôi bước ra theo. Ngồi xuống bên Hào, tôi hỏi:
- Và mày đã đề nghị cho thằng Chương đi học lớp Việt ngữ ở đây?
Hào gật đầu. Có hai phụ huynh đến rước con về. Họ vẩy tay về phía chúng tôi. Chúng tôi chào lại. Thằng Chương còn lại một mình, nhưng nó có vẻ hài lòng với sự một mình đó. Tôi hỏi tiếp:
- Nhưng tao thấy như vậy cũng chưa đủ để cắt nghĩa về thằng Chương. Tao thấy nó học chăm hơn những đứa khác, cố gắng nhiều hơn, nhưng nó lại xa lánh những đứa khác. Tại sao?
Ánh mắt của Hào nhìn về chỗ đứng của thằng Chương thật hiền hòa:
- Mày phải hiểu nó. Sống bên những đứa trẻ nhà giàu, thằng Chương mang cái mặc cảm với sự thiếu thốn, dành dụm của mẹ nó. Nó đâu phân biệt được những gì gọi là quốc hồn, quốc túy. Nó chăm học chỉ tại vì nó muốn đọc được và viết được tiếng Việt để người ta không gọi nó là thằng mất gốc. Thế thôi. Bởi mỗi lần như thế, nó biết mẹ nó buồn. Mày thấy đó, nó đâu có tha thiết gì với ngôn ngữ Việt Nam đâu. Trong thâm tâm, nó muốn được như mấy đứa nhỏ con ông chủ nhà. Ở nhà nó bị những đứa con ông chủ nhà chơi trên đầu, trên cổ mà cũng phải ráng nhịn vì sinh kế của hai mẹ con nó. Vô trường nó lại mang mặc cảm bị thua kém, chối bỏ bởi những đứa trẻ Việt Nam khác. Nhưng dù sao nó cũng là một đứa con có hiếu, mày đồng ý không?

Tôi gật đầu và nghĩ đến hình ảnh một người góa phụ nuôi con lớn lên nơi xứ người. Một mặt phải lo cho con ăn học, một mặt phải lo gửi tiền về bên nhà cho thân nhân duy trì cuộc sống - ngay cả lúc cuộc sống từng ngày của bản thân mình bên này cũng thật là bấp bênh. Trước 75, giữa chiến tranh, mẹ Chương cũng như bao người đàn bà Việt Nam khác phải gánh chịu thật nhiều thiệt thòi để thay chồng tần tảo nuôi con. Sau chiến tranh, qua xứ Mỹ, là một nơi dư thừa vật chất, mà vai trò của người đàn bà Việt Nam vẫn không nhẹ đi chút nào, nếu không muốn nói là có phần nặng nề hơn. Hình như định mệnh đã dành cho những người mẹ, người vợ Việt Nam thật nhiều thiệt thòi, bất hạnh. Đáng phục nhất là trải qua bao thăng trầm, họ đã vẫn vượt qua tất cả những gian truân với một tình thương tuyệt đối cho chồng, cho con. Như mẹ Chương chẳng hạn. Lo cho đứa con mình đang xa dần ngôn ngữ, sợ nó mất gốc mà gần như là bất lực. Đi làm ban ngày, may mướn ban đêm. Sống từng ngày như một cơn sốt, giờ đâu mà dạy tiếng Việt cho con.

Giọng Hào trở nên tha thiết:
- Mày nhìn thằng Chương, mày có thấy gì không? Ở trong lòng nó là một trận chiến văn hóa thật là khốc liệt. Một bên nó muốn được như những đứa trẻ Mỹ khác, nhưng chính những đứa Mỹ đó đã khinh khi và nhắc nhở cho nó về một sự khác biệt của màu da và tiếng nói. Một bên nó muốn lánh xa những đứa trẻ Việt Nam khác, nhưng nó lại phải cố gắng học tiếng Việt bởi không muốn bị mắng vốn là thằng mất gốc, bởi mẹ nó sẽ buồn. Những gì gọi là Việt Nam đối với nó là một sự ràng buột xốn xang, mày thấy không?
Tôi im lặng đồng ý. Hào nói tiếp:
- Mày xem. Tao với mày năm nay hai mươi lăm tuổi. Mình hơn thằng Chương có mười tuổi. Xét ra, mình có hơn gì nó đâu ngoài biết đọc và biết viết tiếng Việt rành hơn nó. Mày với tao tiếng Việt nhiều khi dấu hỏi, dấu ngã còn đánh trật tùm lum. Qua đây mười năm, mình cố gắng lắm mà thỉnh thoảng cứ chêm tiếng Anh vô tiếng Việt. Huống hồ gì những đứa trẻ như thằng Chương với cuộc sống hiện tại của nó.
Tội gật đầu. Giọng Hào bỗng dưng xót xa:
- Tao với mày rời Việt Nam năm mười lăm tuổi. Cỡ tuổi thằng Chương bây giờ. Mày thấy đó, tụi mình đâu đem theo được bao nhiêu điều trong lòng mà có thể thực sự gọi là quê hương đâu. Cùng lắm là vài hình ảnh mường tượng trong trí nhớ. Mày biết không Nhân, tao bây giờ nhiều lúc chỉ thèm được một lần cúp cua đi chơi ở vườn Tao Đàn, một lần ăn bò bía Bưu Điện mà thôi. Nghe các anh chị lớn kể lại mình cũng đủ thấy thèm, nào cần gì phải mơ ước xa xôi chi đến đi thăm Huế, Quảng Trị hay Hà Nội. Hình ảnh rõ ràng về quê hương nhất của tao là lần chạy giặc Tết Mậu Thân. Mẹ tao tay xách cái giõ, tay kia dắt em tao chạy về phía lô-cốt. Tao tay nắm cái bị quần áo nhỏ chạy theo. Năm đó tao mới tám tuổi, nhưng đó là cái đêm tao nhớ rõ nhất. Súng nổ vang quanh mình, đại bác bắn ầm ầm. Trên trời hỏa châu cứ phực sáng, phực tắt. Mày cũng vậy. Có khác gì tao đâu. Mày thấy không, quê hương trong mình thật nghèo nàn. Tụi mình sống ngất ngư trong đó. Đâu có học hỏi, thu thập được bao nhiêu. Vậy mà cũng đòi đi dạy. Trong khi chính mình cũng cần phải tự học lấy. Các thầy cô cũ chỉ muốn làm cố vấn. Mình hiểu, họ còn phải lo cho cuộc sống của riêng họ nữa. Đòi hỏi gì đây?
Hằn học dụi tàn thuốc xuống đất, Hào ray rứt nói, như với riêng mình:
- Mày thấy đó, mình nói ra cũng thừa. Bởi nghĩ cho cùng, đâu ai bắt mình làm đâu. Bày ra chuyện làm, thì có đuối cũng ráng chịu. Ai biểu ngu, hăng tiết vịt làm chi, mày thấy không. Mày biết, nhiều lần tao cũng muốn bỏ cuộc, vì nản. Nhưng nhìn những đứa như thằng Chương thì tao bỏ cuộc không đành mày ạ. Bởi tao nhìn nó, thấy thương, vì nó là hình ảnh của mình mười năm về trước. Cho nên tao nghĩ, nếu mình không thể cho nó một quê hương thì ít ra mình cũng nên chia nó những gì gọi là quê hương mình có trong lòng, dù chẳng là bao nhiêu. Nhưng tao đâu có muốn dạy tiếng Việt để nó nói như một con vẹt mà không có một ý niệm gì về hảnh diện ngôn ngữ, màu da. Nên lớp học của mình không có nhiều bài làm mà nhiều sinh hoạt hơn. Biết đâu, qua những sinh hoạt đó mình có thể cấy vào tâm hồn nó một chút gì gọi là quê hương, là dân tộc. Để có một ngày lớn lên, nếu nó muốn, nó có thể tự tìm về. Tao tin là nó sẽ tự tìm về, vì màu da của nó đã là định mệnh. Mình mong sao nó sẽ hãnh diện với cái định mệnh đó. Thằng Chương giống như một đứa bé đang hụt bơi giữa hai giòng văn hóa mày thấy không? Mình cũng vậy, có hơn gì nó đâu. Có khác là mình bơi khá hơn chút đỉnh thì cũng cố mà đeo nó theo để bơi về phía bờ văn hóa Việt. Mình phải tự cứu mình, Nhân ạ. Chờ phao người ta thảy xuống, thì sợ lúc đó mình đã chết đuối rồi. Có thể tao tiêu cực, nhưng tao tin rằng tao thực tế. Mình đang chết khát, người ta hứa đem nước cho mình uống. Nhưng không lẽ không biết tự đi kiếm nước lấy mà uống. Đôi khi thực tế có nghĩa là tích cực cụ thể hóa những gì mình ao ước, mày hiểu tao không Nhân?

Tôi hiểu thằng bạn mình. Và ngạc nhiên, bởi chưa bao giờ tôi hiểu nó như bây giờ. Và gần nó hơn ở những điều chúng tôi nhìn thấy. Lớp học này chẳng hạn. Ngoại trừ một số phụ huynh tha thiết cho con em mình đi học tiếng Việt đã tự động đem con em mình đến lớp thường xuyên, đa số các em là do Hào và các bạn "kiếm" lấy. Chữ "kiếm" nói thì nghe hơi... thảm, mà đúng. Giáo viên vốn bất đắc dĩ nên học trò cũng bất đắc dĩ luôn. Phải thông cảm cho các em nhỏ, một tuần vô lớp học năm ngày, bài làm muốn bở hơi tai. Có em còn phải đi làm phụ thêm cho sinh kế gia đình. Cuối tuần lại phải đi học thì thật là khó khăn cho các em thu thập. Giáo viên muốn có học trò để dạy, phải đi năn nỉ phụ huynh cho con em đi học lớp mình. Tình nguyện đưa đón luôn, nếu cần. Chúng tôi đang làm văn hóa đây sao? Nghĩ mà buồn. Nhiều cha mẹ cuối tuần phải đi chợ, đem con nhỏ theo khó coi chừng, "tiện đường" họ thả con cho đi học. Đi chợ xong đến rước con về, có khi giữa giờ học. Chúng tôi chỉ là những người giữ trẻ đối với họ - không hơn, không kém. Tôi hiểu Hào. Mình không trách phụ huynh được vì mỗi gia đình có một hoàn cảnh khác nhau. Hơn nữa, mình đang cần có học trò để dạy mà ăn nói lạng quạng mất học trò cũng nên. Bây giờ người ta lo sống trước đã, văn hóa cho con cái cần phải bảo tồn là chuyện phụ. Mang tiếng là giáo viên mà thật ra chẳng khác gì người giữ trẻ. Chúng tôi hiểu thế. Chấp nhận. Và xót xa - mình giữ cho mình còn chưa xong, mà dám đi giữ cho con người khác. Nhưng chúng tôi cứ nghĩ rằng nếu mình cứ tình nguyện giữ trẻ cho phụ huynh, biết đâu những lúc đó mình có thể mang đến cho các em một vài khái niệm về quê hương và dân tộc. Biết đâu được, chỉ mong thôi.

Tôi yên lặng. Hào cũng vậy. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ của riêng mình. Của chung. Đến khi mẹ của Chương đến rước Chương về, chúng tôi chào bà ấy. Xong, Hào đứng dậy bảo:
- Thôi, bây giờ tao ra hạ cờ. Mày đi khóa cửa các phòng học lại rồi mình về. Còn phải lo cho ngày Nhân Quyền nữa.

Với lời nói đó, Hào bước về phía cột cờ giữa sân. Tôi nhìn theo bóng Hào. Thương nó. Thương chính mình. Hai đứa chúng tôi không cô đơn bởi biết còn rất nhiều người trẻ như mình lắm trên thế giới này. Nhưng chúng tôi lạc lõng. Và hụt hẫng. Nén một tiếng thở dài, tôi quay gót về phòng học.


oOo


Quang cảnh ngày Nhân Quyền thật là cảm động, náo nhiệt. Bàn thờ tổ quốc nghi ngút hương, cờ xí biểu ngữ rợp đường. Và căng thẳng. Căng thẳng vì bên kia đường, một nhóm sinh viên Mỹ thân cộng chừng bảy tám đứa đang hô hào tôn vinh chủ nghĩa Mác-Xích. Họ la lớn, đoàn người Việt Nam lại hô lớn hơn, át hẳn tiếng la của họ. Họ khiêu khích, nhưng tất cả mọi người đều ý thức được sự quan trọng của hôm nay nên vẫn chưa có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Suốt cả buổi biểu tình diễn ra thật xúc động và phấn khởi đúng theo chương trình. Cho đến phút sau cùng.

Mọi người đã về gần hết. Chúng tôi ở lại dọn dẹp. Mẹ Chương và Chương cũng ở lại cho đến lúc cuối để tiếp chúng tôi dọn dẹp chung quanh. Bọn sinh viên Mỹ thân cộng cũng còn đang tụ tập bên kia đường. Mỗi thằng cầm một chai bia, những lời nói bẩn thỉu lại vang lên rời rạc. Khi tất cả đồ đạc đã được gom lại một chỗ, tôi đi lấy xe trong khi Hào, mẹ Chương và Chương đứng giữ đồ. Tay Chương cầm một lá cờ Việt Nam, ánh mắt nó ngó đám người Mỹ bên kia đường một cách lạ lùng.

Vừa đậu xe xong, tôi mở cửa bước xuống. Và tôi ngơ ngác trước cảnh tượng trước mặt. Thằng Chương và mẹ nó đang đứng bên đống đồ. Hào đứng chắn phía trước. Đám sinh viên Mỹ lúc này đang đứng trước mặt Hào, mặt đứa nào cũng đỏ gay với men bia. Lá cờ Việt Nam không còn trong tay thằng Chương nữa, nó đang nằm trong tay thằng Mỹ to con nhất. Tôi hiểu hết mọi sự và chạy lại. Tôi vừa đến nơi thì thằng Mỹ đó đã phun bọt mép một cách khinh bỉ và ném lá cờ xuống đất. Hào vừa cúi người xuống lượm, thì tôi la lớn:
- Hào, coi chừng!
Nhưng đã muộn. Tay thằng Mỹ đã vung thẳng một nắm đấm vào mặt Hào. Hào quị xuống. Lá cờ trong tay Hào lại rớt ra. Chân thằng Mỹ nhấc lên, tống mạnh vào bụng Hào. Hào hự lên một tiếng và nằm ra. Không chịu nỗi nữa, tôi nhào lại, nhưng Hào đã la lớn:
- Đừng Nhân!

Tay nắm lại lá cờ, Hào bậm môi nén đau từ từ đứng dậy bằng hết sức lực của mình. Mắt Hào nhìn thẳng vào thằng Mỹ trước mặt - không thách thức, nhưng kiêu hãnh. Lúc đó, đã có một số đông người Mỹ tụ lại chung quanh. Họ có thái độ bất mãn rõ rệt với sự hung hăng của thằng Mỹ to con kia. Nhưng trước khi chuyện gì khác xảy ra, hai người cảnh sát viên tuần hành khi biểu tình lúc nãy đã trở lại. Cả đám đông lẫn tụi Mỹ thân cộng được giải tán thật nhanh. Hào xua tay khi người cảnh sát viên hỏi Hào có muốn thưa kiện thằng Mỹ to con kia không. Đưa lá cờ trong tay cho thằng Chương, Hào nói mẹ của Chương hãy đưa nó về.

Nhìn theo dáng thằng Chương đang xa dần với lá cờ trong tay. Hào ngồi xuống bên lề đường ôm đầu, chán nản. Tôi ngồi xuống bên cạnh Hào. Im lặng. Lại một tiếng thở dài. Tôi bực mình:
- Mày thở dài cái gì? Có gì thì nói ra, cứ giữ khư khư trong lòng cũng chẳng khá gì hơn.
Hào đua tay lên xoa má, nơi bị đấm đã bắt đầu ửng vết bầm. Nén một hơi thở nhẹ, Hào nói:
- Tao sợ lần này tao mất thằng Chương thiệt tình, Nhân ơi!
- Tao không hiểu, mày nói rõ hơn.
Hào buông thỏng đôi tay ôm vòng lấy gối, giọng thật buồn:
- Mày biết đó, tao muốn đem thằng Chương về gần với những gì gọi là Việt Nam. Tao nghĩ nếu nó có mặt đêm nay, có thể nó sẽ tìm thấy được những gì mà mình muốn chia sẻ với nó mà không thể được trong lớp học.
- Thì thằng Chương đã có mặt đêm nay. Và những gì nó thu nhận được, nó sẽ thu nhận. Mày sợ cái gì chứ. Vả lại, chuyện quê hương mình đâu thể nhồi sọ hay ép uổng nó được. Mày lo xa quá.
Hào bứt rứt:
- Cái lo của tao là thằng Chương tấy tao bị đánh mà không đánh trả, nó sẽ cho là tao hèn, tao chịu nhục, mày hiểu không? Tao đem nó đến đây để cho thấy được một vài điều hãnh diện về Việt Nam. Hãnh diện đâu chưa thấy, nó đã thấy sự nhịn nhục của tao rồi. Làm sao tao cắt nghĩa cho nó hiểu tại sao tao không đánh trả đây? Tao sợ sau lần này thằng Chương sẽ không đi học nữa, mày ạ. Chán quá Nhân ơi, chưa kéo nó về được gần mình bao nhiêu thì tự tao đã đẩy nó xa mình rồi.
Hào lại thở dài chán nản. Trước thái độ chào thua của bạn mình, bỗng dưng tôi nỗi nóng:
- Tao tưởng mày lo cái gì, những điều mày lo nó chẳng đến đâu cả, nếu không muốn nói là nhỏ mọn. Mày sợ mất thằng Chương, cái đó tao hiểu. Mày nhịn thằng Mỹ kia đâu phải là tại mày nhát. Cái đó đâu phải chỉ một mình tao thấy, mà cả bao nhiêu người khác nữa. Kể cả mẹ thằng Chương. Mày thử nghĩ lại đi. Chuyện thằng Chương mày cho là lớn. Thế còn những công sức mọi người đã bỏ ra cho đêm nay mày vứt đi đâu? Thằng Mỹ nó đấm mày một cái, mày đánh lại nó một cái. Rồi nhào vô đánh tùm lum. Để làm gì chứ? Bữa nay mình tổ chức thành công, truyền hình quay phim ào ào. Rồi có vụ đánh lộn, mày hiểu chứ. Báo chí mà. Mình làm điều hay không biết được loan tin bao nhiêu, chứ có vụ đánh lộn là tụi nó đem lên hàng đầu. Ngày mai báo chi đăng tin - một người Mỹ bị một người Việt Nam tị nạn, tao nhấn mạnh chữ tị nạn, hành hung. Lúc đó, bao nhiêu công lao anh em bỏ ra, bao nhiêu người đi tham dự bỏ trôi sông hết sao? Thúi hoắc! Mẹ nó, tao nói mày đừng giận. Mày nghĩ lại đi. Chuyện thằng Chương tao hiểu lắm. Nhưng hôm nay, nếu mình không làm gì được cho người bên nhà sau hơn mười năm xa nước, thì ít ra mình cũng đem chút quyền ngôn luận mà chia sẻ với những người bên kia, nói dùm cho họ chút gì gọi là tù đày, là cộng sản. Mày đấm thằng Mỹ đó một cái, rồi hậu quả đó ai chịu. Lúc đó, nói dùm cho bà con bên nhà chưa xong, lại phải lo đính chánh cho mình bên này. Rồi còn bao nhiêu cảm tình người dân địa phương dành cho mình nữa. Không lẽ cũng còn nguyên hay sao?
Hào vẫn nghe, đầu cúi thấp xuống gối. Bực quá, tôi nắm hai cổ áo của Hào xốc mạnh cho đầu Hào ngước lên. Nhìn thẳng vào mắt Hào, tôi nói trong cơn giận:
- Tao nói mày đừng tự ái. Đôi lúc mày đã vượt xa cái giới hạn thằng giữ trẻ của mày. Đến những lúc này là lúc mày phải trả cái quyền hướng dẫn và dạy dỗ lại cho mẹ thằng Chương. Tao nghĩ mẹ của Chương đã chứng kiến những gì xảy ra từ đầu đến cuối để hiểu tại sao mày nhịn. Và tao tin những hành động của mày sẽ được cắt nghĩa tường tận cho thằng Chương, nhưng người cắt nghĩa phải là mẹ của nó, mày hiểu không? Mất thằng Chương, tao cũng tiếc như mày. Mày sợ thằng Chương cho mày nhục nhã không tự vệ, thế còn cái nhục ly hương mày để đâu? Không lẽ mình cứ ở lại bên này để giữ mãi một khúc đường cùng. Phải phá nó ra! Về! Mày hiểu không? Phải về! Vả lại, mình phải cám ơn thằng Mỹ kia mày biết không. Vì với quả đấm đó, nó đã nhắc nhở cho mình là cái xứ này chỉ là một chốn tạm dung thân mà thôi. Nên dẹp cái nỗi buồn của mày lại đi. Nó thúi hoắc hà! Còn nhiều chuyện khác đáng lo, đáng buồn hơn sao mày không nghĩ tới. Đôi khi mình phải tự ý thức để vươn lên từ thất bại, mày hiểu không?

Tôi nói say sưa. Buông cổ áo của Hào ra, tôi đứng dậy. Khi nhìn xuống, Hào đang nheo mắt nhìn tôi với nụ cười:
- Bây giờ tao mới thấy ba tao nói đúng khi ổng lấy số tử vi cho mày năm xưa.
- Ba mày nói cái gì?
- Ba tao nói mày có khiếu làm... luật sư.
Và tôi ngượng. Hào đang khen tôi. Tôi nói lướt đi trên sự ngượng ngùng của mình:
- Thôi, tiếp tao dọn dẹp lẹ lẹ rồi đi về. Còn đi dạy học, đi làm ngày mai nữa.
Đứng dậy khoác tay qua vai tôi, Hào nói:
- Đi.

Tôi khoác tay qua vai Hào, và cứ thế chúng tôi bước về phía đống đồ còn nằm giữa công viên tòa thị sảnh. Những người Mỹ chung quanh nhìn chúng tôi với con mắt ngờ vực. Ở cái xã hội văn minh này, nơi mà vấn đề sinh lý được đặt trên vấn đề tâm lý, hai người cùng phái khoác vai nhau đi ngoài đường là bị xem như là đồng tình luyến ái. Chúng tôi biết thế, nhưng chúng tôi mặc kệ. Vì những người đó đâu biết chúng tôi cũng đang làm một cuộc xuống đường trước mắt họ. Một cuộc xuống đường âm thầm và ngạo nghễ cho quyền bày tỏ tình bạn bè giữa hai người Việt Nam - giữa Hào và tôi. Tuy ít oi, nhưng cũng không kém phần quan trọng trong mỗi đứa.


oOo


Tất cả giáo viên vừa chuẩn bị cho các em xếp hàng để chào cờ xong thì từ trong phòng học của tôi Hào và Chương bước ra. Tay Chương ôm lá cờ. Và tôi ngạc nhiên. Mỗi lần bắt đầu lớp học như vầy thì Hào cho một em tình nguyện ra treo và kéo cờ, như chúng tôi đã làm khi còn đi học ở Việt Nam. Thằng Chương không bao giờ tình nguyện cả, cho đến hôm nay. Và đó là điều làm tôi ngạc nhiên. Ánh mắt tôi đầy dấu hỏi khi Hào đi ngang qua. Hào ngó tôi cười nhẹ, và hất cằm về phía cổng nhà thờ. Ở đó, mẹ của Chương cũng đang đứng nghiêm chỉnh để chờ lễ chào cờ bắt đầu với một thái độ hãnh diện khi nhìn đứa con mình đang trịnh trọng bước về phía cột cờ giữa sân với lá cờ trong vòng tay ôm. Thấy tôi, bà khẽ gật đầu chào với một nụ cười thông cảm. Và tôi hiểu.

Quốc kỳ được kéo lên. Tất cả mọi người cùng cất tiếng hát bài quốc ca. Có nhiều em không thuộc phải cầm giấy hát, nhưng tôi tin chúng tôi dạy dần các em sẽ thuộc. Tôi nhìn lá cờ đang được thằng Chương từ từ kéo lên cao mà nhớ đến một lần Hào nói về một trận chiến trong nội tâm của những đứa bé như Chương. Và tôi hiểu trong vô cùng cảm khái. Ở một Việt Nam bên kia bờ biển, trận chiến vẫn còn đang tiếp diễn cho tự do và nhân quyền được tôn trọng - thật âm ĩ, nhưng thật khốc liệt. Nhưng ở tại nơi đây, và bao nhiêu nơi khác trên thế giới, vẫn có những trận chiến khác đang xảy ra trong tâm linh thao thức của những thằng Chương, của những thằng Hào, và của những người cha mẹ của Chương. Trận chiến mà mỗi lần có một đứa bé tình nguyện ra kéo cờ là một tất đất vừa dành lại được, mà huy chương cho kẻ chiến thắng là những niềm vui khi nhìn nhau ở những phút giây như bây giờ. Không nhiều đâu, nhưng cũng đủ để chúng tôi giữ vững được niềm tin, ngay ở những lúc chán nản nhất, để vương tay với hoài một ước mơ. Thỉnh thoảng, những niềm vui và những niềm tin đó hiện hữu thật chan hòa trong cuộc sống, như bây giờ, ở nơi đây, một nơi chốn mãi vẫn còn xa lạ này. Không nhiều đâu, nhưng cũng đủ. Và cần thiết.



Văn Học 1986
chép lại và bổ túc tháng 1, 1996



npn





5724




Image



s t a r r y ,- s t a r r y- n i g h t

____________________________________________________________________________

art is a lie that makes us realize the truth. (1)

all right, call them lies if you will, but
they are more exact than literal truth. (2)



Tôi nhìn người đàn ông mới nhập viện an thần cách đây gần hai tuần. Ông ta xem rất tỉnh táo, không có triệu chứng gì là một người bất bình thường cả. Người ta nói với tôi cách đây không lâu ông tự cắt lổ tai của mình. Ngày ngày ông ngồi thật lâu, nhìn ra ngoài khung cửa sổ nhỏ duy nhất của căn phòng mình, về phía cánh đồng trước mặt. Rồi vẽ. Những màu sắc rực rỡ, đối chọi ông tạo trên khung vải thật khác lạ với những trường phái hội họa đang thịnh hành.

Thấy tôi bước vào, ông chỉ liếc nhìn rồi lại tụ thần vào khung vải. Tôi lặng yên nhìn ông cặm cụi pha màu. Những ống sơn màu vàng, màu trắng và màu đen đã dùng hết nằm ngổn ngang quanh ông. Mỗi lần pha được một màu vàng như ý, ông lại dưa vào khung vải. Một hồi sau ông thẳng người, nhìn ra cánh đồng vàng đang sẩm tối dần qua khung cửa sổ trước mặt, gật đầu, rồi buông cọ. Ông ngó tôi, rồi nhích người qua một bên, cho tôi nhìn trọn bức họa. Tôi bước lại gần. Những màu vàng trên bức họa như nối liền nhau thành một khối. Nếu không có mặt trước đây, tôi sẽ chẳng nhận ra nó được thành hình từ sáu đường cọ khác nhau. Tôi ngó ra ngoài cửa sổ. Trong trời chạng vạng tối, cánh đồng trải màu vàng thật rõ ở nơi gần tầm nhìn của tôi nhất, và chuyển dần vào màu vàng nâu tối ở cuối chân trời. Tôi nói:

- Chỉ một màu vàng, mà cũng công phu quá nhỉ.

Người đàn ông trả lời:

- Tôi không vẽ một cánh đồng vàng. Tôi vẽ một cánh đồng đang vàng trong tôi.

Tôi nhìn ra khung cửa sổ. Nền trời cũng đang đi từ màu xanh thẳm thật gần vào một màu sâu thăm thẳm thật xa. Tôi nhìn lại khung vải. Nửa phần trên của khung vải vẫn còn trắng. Tôi chỉ vào khoảng trắng đó và hỏi:

- Còn nền trời thì sao.

Người đàn ông nhìn ống chích đựng thuốc ngủ an thần trong tay tôi, đáp:

- Tôi chưa bao giờ có được thức một buổi khuya thật trọn.

Tôi cho ống chích vào túi áo khoát của mình, nhìn ông:

- Tôi hy vọng sẽ được thấy màu trời đêm của ông. À không, tôi phải nói là tôi hy vọng được thấy màu trời đang đêm trong ông.

Người đàn ông nhìn tôi trong yên lặng. Sau đó, một nụ cười. Và ông quay lại khung vải. Tôi bước đi ra khỏi phòng ông. Và khép cửa lại.


oOo


- Sir, wake up...

Thuật giật mình tỉnh ngủ. Người nhân viên lay Thuật dậy. Ông bảo:

- Giờ thăm viếng đã hết. Xin lỗi, chúng tôi phải mời ông rời nơi này.

Thuật ngỏ lời xin lỗi và đứng dậy thu xếp tập croquis cùng dụng cụ hội họa của mình. Khi bước ra bên ngoài, trời đã tối hẳn. Những vì sao đã lấp lánh trên nền trời. Thuật kéo áo ấm kín lại, đeo ống nghe vào tai và vặn máy hát nhạc bỏ túi.

Từ bên ngoài, Thuật đưa mắt nhìn về phía căn phòng. Qua khung cửa sổ, ánh nến vẫn chiếu sáng. Dù đã bao năm qua. Dù không còn ai trong căn phòng đó.

Thuật nhìn lên nền trời một lần nữa. Vầng nguyệt soi sáng nền trời. Màu ánh trăng trải vàng lên mây, lên đêm tối. Làm vàng luôn cả những vì sao. Thuật mỉm cười một mình. Rồi bước về phòng trọ. Giọng người ca sĩ vang vẫn vang lại trong tai:

...
for they could not love you,
but still, your love was true
and when no hope was left inside,
on that starry, starry night -
you took your life as lovers often do
but I could have told you, Vincent,
this world was never meant for one as beautiful as you... (3)




12 Feb 1998


(1) Pablo Picasso
(2) Vincent VanGogh
(3) Don McLean, bài nhạc Vincent



npn





5925




Image



n h ữ n g- đ i ề u- t u y ệ t- đ ố i- k h ô n g- t h ể- n ó i

____________________________________________________________________________




Hạnh phúc là có nhau hôm nay,
để sống.
Yêu thương là biết sống làm sao để ta có nhau
ngày mai.


Trong cuộc sống đầy xếp đặt,
người ta chọn một thái độ để sống.
Với mình.
Với người.
Với đời.


Ta chọn sống cho một thái độ.
Với ta.
Với em.
Với tình yêu.


Em bảo: Không có gì tuyệt đối!


Ta nói: Em đúng, nhưng
ta tuyệt đối tin những điều-ta-tin, như
ta có tình yêu trong trái tim,
ta có em trong đời,
ta yêu em,
lòng hiền như bụi.


Và ta biết -
Không phải em không yêu ta.
Mà vì em chưa tuyệt đối tin những rung động trong tim mình,
khi trái tim em đã từng rung động,
và từng thất vọng.


Không sao em.


Hãy chỉ biết:
Có người ngồi trong bình minh chỉ nghĩ về đêm tới.
Ta chọn ngồi trong bóng tối để ngợi ca ánh sáng trong trái tim mình.
Có kẻ đứng giữa trưa hè, mà lo sợ cơn rét mùa đông sẽ đến.
Ta lặng ngắm cành khô băng giá mà nhìn ra mầm xuân hẹn ước đâm chồi.


Ta làm tất cả điều này.
Ta
là tất cả điều này.
Từ tâm.
Bình thản.
Tuyệt đối.
Hồn nhiên.
Bởi yêu em.
Vì yêu em.
Để yêu em.


Như em yêu ta,
ở những điều không nói.




npn




6282




Image



n ó i - v ề - s á n g - t á c - v à - đ ó n - n h ậ n - â m - n h ạ c

____________________________________________________________________________




Sáng tác là sự lựa chọn tuyệt đối của tâm linh, với nhạc sĩ.

Thưởng thức âm nhạc (hay nghệ thuật) cũng thế, với người nghe.

Khi ý niệm phát sinh trong tâm tưởng, nhạc phẩm có thể thành hình ngay sau đó để trở thành những rực sáng của cảm xúc, những tiếng sét của tư duy. Hay nhạc sĩ có thể nghiền ngẩm ý niệm vào sâu trong tận cùng cô thức để chắt chiu nó thành những giọt mưa hiếm hoi long lanh trong sa mạc của mặc tưởng. Thậm chí, những ảo ảnh nhạc sĩ nhìn thấy trong sa mạc mặc tưởng đó, vả chăng, chỉ là những thử thách để nhạc sĩ gạn lọc hầu tìm thấy mình khi sáng tạo. Cuộc hành trình của sáng tạo, lắm khi, là cất bước đi từ những gì mình-nghĩ-mình-là qua những gì mình-biết-mình-không-là, để đi đến chốn-mình-là. Hay ngược lại.
Đó là quyền của nhạc sĩ, trong tâm linh. Tuyệt đối.

Khi ý niệm đã đong đầy trong tư tưởng, âm thanh sẽ thành hình. Trong nhạc phẩm, nhạc sĩ có thể chọn "giam" mình vào khuôn khổ hay "thoát" mình vào một trạng thể tự do. Một bản nhạc khuôn khổ nhưng súc tích cảm niệm vẫn tuyệt vời hơn một bản nhạc tự do nhiều kỷ thuật nhưng ít ý niệm. Ngược lại, đôi khi khuôn khổ lại là những hàng rào giới hạn không cho tư tưởng được diễn tả thật đầy đủ, thật phóng khoáng như ý muốn của nhạc sĩ. Trong sáng tạo âm nhạc, các nốt nhạc, ký âm, giai điệu là phương tiện. Nghệ thuật của sáng tác âm nhạc nằm ở chỗ nhạc sĩ đã thành công hay chưa khi đã tận dụng hết khả năng của mình để chuyên chở thật trọn vẹn, thật nát ý điều mình muốn nói, cần nói. Đầy, mà không tràn. Vừa, mà không vơi.
Đó là quyền của nhạc sĩ, trong tác âm. Tuyệt đối.

Người nghe một nhạc phẩm như đứng trước một bờ sông. Có người muốn nhạc sĩ đưa họ qua bên kia bờ. Có người không muốn qua sông, nhưng muốn nhạc sĩ nói cho họ nghe về những gì tìm thấy ở bờ bên kia. Có người không quan trọng hoá vấn đề bờ bên nay hay bên kia, mà là được cùng nhạc sĩ làm một chuyến hành trình trong tâm linh và cảm xúc. Họ đến với nhạc sĩ và nhạc phẩm như họ đang chọn người chèo và con thuyền để đưa mình sang sông. Có người chỉ chú tâm vào con thuyền - rộng hẹp, đẹp xấu, chắc chắn hay èo ọp. Có người chỉ chú tâm vào người chèo - quen biết hay xa lạ, thâm trầm hay sôi nổi. Thậm chí, có người chỉ muốn chọn những con thuyền xuôi dòng cảm âm vô định, lìa xa những bến bờ để làm một cuộc hành trình không-bao-giờ-đến.
Đó là quyền của người nghe, khi thưởng thức. Tuyệt đối.

Những dòng chữ này chia sẻ đôi điều suy cảm về một vài khía cạnh của sáng tác và đón nhận âm nhạc. Và nếu nó khơi động được những cảm nhận khác, thì nó đã làm được phần nào ý định của người tạo ra nó.

Và đó cũng chỉ là linh họa từ một góc nhìn. Tương đối.




npn




6713




Image


t h i- t â m

____________________________________________________________________________




Thư sinh ngẩn ngơ nhìn mỹ cảnh trước mắt. Trời bắt đầu chiều, vầng dương đang lặn dần sau áng mây ửng đỏ. Hàng thanh liễu rủ mình bên sông, lả lơi trong gió. Vài cánh chim rủ nhau bay tìm chỗ trú. Chung quanh tịch lặng. Khung cảnh hữu tình.
Thư sinh là thi sĩ nổi tiếng. Không giống như các thi nhân khác, thư sinh lánh xa những chỗ trà đình tửu quán. Chàng không chen chân vào chốn phồn hoa để khoe tài. Thư sinh sống rất đơn thanh, giang hồ cùng bầu rượu túi thơ. Khi nào hài lòng với những bài thơ mới được đúc kết thành một tập, chàng tìm về kinh đô. Nơi đó lúc nào cũng có sẵn những người mua thơ của chàng. Thư sinh đổi thơ lấy tiền, rồi lại lãng du theo tiếng gọi của phong cảnh và hồn thơ của mình.
Chiều nay thư sinh lại ra ven bờ hồ ngồi ngây ngất với nét đẹp của thiên nhiên. Mấy ngày nay chàng không ghi xuống được trên mặt giấy một chữ nào. Chàng dằn vật, khổ sở. Chàng biết muốn đưa thơ của mình đến một cảnh giới mới không phải là dễ. Thư sinh mong cảnh trí tịch lặng nơi đây sẽ giúp mình tìm ra một thi hướng mới. Nhưng đã bao ngày đêm hao tâm mà vẫn chưa đạt được một kết quả nào.
"ÙM..."
Tiếng một viên đá to bị ném xuống nước làm tan vỡ cả một vùng tịch lặng.
"ÙM... ÙM... ÙM.."
Liên tục những tiếng vang của mặt nước bị chấn động làm thư sinh bực mình. Chàng đứng dậy đi về phía tiếng động phát sinh. Qua khỏi một khúc quanh của bờ hồ, thư sinh thấy bóng dáng một người đang ôm những tảng đá lớn ném xuống hồ. Một ông lão. Chàng cất tiếng hỏi lớn:
- Lão trượng làm gì thế?
Ông lão ngừng lại trố mắt nhìn thư sinh, rồi lại cúi xuống ôm tảng đá kế tiếp ném xuống hồ. Thư sinh bước đến gần hơn và hỏi lại:
- Lão trượng làm gì thế?
- Công tử làm gì thế?
Ông lão không trả lời mà hỏi ngược lại thư sinh. Chỉ cuốn sách trong tay thư sinh, ông lão hỏi tiếp:
- Cái gì thế?
- Đây là tập thơ của vãn bối.
- Công tử đến đây để làm thơ?
- Vãn bối đến đây để tìm ý thơ.
Ông lão ngừng lại việc làm điên rồ của mình và hỏi một cách kinh ngạc:
- Ồ, công tử đến đây tìm ý thơ sao? Nó ở đâu?
Thư sinh khoát tay một vòng chung quanh mình và đáp:
- Nơi đây cảnh trí nên thơ, hữu tình. Lão trượng không thấy như vậy sao? Và cả sự tịch lặng nữa. Với vãn bối, là một động lực thúc đẩy cho hồn thơ sinh động.
Nhìn dáng lam lủ của ông lão, thư sinh ngại ngần nói tiếp:
- À, mà chắc lão trượng không hiểu vãn bối nói gì đâu nhỉ.
Ông lão cũng gật đầu đồng ý:
- Thì ra như thế. Hóa ra lão phá rối hồn thơ của công tử. Thật là lỗi quá. Thôi lão không ném đá nữa, công tử yên tâm.
- Cám ơn lão trượng.
Bất chợt ông lão ngồi xuống đất. Ông lão ngoắc tay bảo thư sinh ngồi xuống bên mình và nói:
- Công tử ạ, chúng ta có duyên gặp nhau nên lão có một món quà tặng công tử. Công tử nhận chăng?
Nhìn bộ đồ vá víu quê mùa của ông lão, thư sinh lắc đầu:
- Vãn bối không dám nhận đâu.
- Công tử đừng ngại, món quà không tốn một chút hiện kim nào cả. Nào, công tử hãy ngồi xuống đây.
Trước chân tình của ông lão, thư sinh vén áo ngồi xuống bên ông lão. Sau khi an vị, chàng nhìn ông lão trong sự chờ đợi. Ông lão đưa ngón tay lên môi ra dấu thư sinh hãy yên lặng. Xong, hai người cùng ngồi bên bờ hồ nhìn ra mặt nước. Bẵng đi một thời gian rất lâu, không thấy ông lão nói gì cả, thư sinh định lên tiếng hỏi thì ông lão đã đưa tay nắm bàn tay của thư sinh, mắt nhìn mắt, ông lão lắc đầu.
Một lúc sau, chừng hết một tuần trà, thư sinh vẫn chưa thấy ông lão làm gì ngoài ngồi yên nhìn ra bờ hồ. Thư sinh không biết ông lão chờ gì. Rồi tự hỏi - Hay ông lão đang chờ quý vật gì hiện lên từ đáy hồ chăng? Dường như đoán được tư tưởng của thư sinh, ông lão quay lại nhìn chàng, đưa một ngón tay lên ngang môi làm dấu yên lặng và quay lại nhìn bờ hồ.
Lại im lặng. Rất lâu.
Thư sinh ngạc nhiên với chính mình trong sự lặng thinh đó. Thường, sự tịch lặng đem đến cho chàng bao nhiêu ý thơ cao đẹp. Vậy mà trong sự tịch lặng khi ngồi bên ông lão, chàng chỉ thấy bực mình. Chàng tự trách mình sao hay vị nể người trọng tuổi. Càng nghĩ càng bực mình, chàng thấy ông lão đùa giỡn với mình một cách thái quá. Nhất quyết, thư sinh duỗi chân đứng dậy, nhưng ông lão đã nắm tay chàng giữ lại, tay kia vẫn ra hiệu cho thư sinh giữ im lặng. Một người nhất định đứng dậy, một người nhất định níu lại. Thư sinh không nhịn được, định mở miệng nói, thì ông lão đã buông tay thư sinh ra. Ngay sau đó ông lão nhặt một hòn đá đặt vào lòng bàn tay thư sinh và hét to:
- Ném đi. Ném đi cho hả giận.
Thư sinh hằn học nhìn ông lão rồi quay người lấy thế ném viên đá vào mắt hồ bằng cả sự tức giận của mình.
- Chỉ ném xa được thế thôi sao? Xem ra công tử sức còn thua đứa bé.
Tiếp theo đó, ông lão đặt những viên đá khác vào tay thư sinh và cứ bảo chàng tiếp tục ném. Càng lúc viên đá càng lớn, cần cả sức lực của đôi tay, thư sinh để tập thơ của mình xuống bên cạnh, và ôm những tảng đá to hơn ném xuống hồ. Ông lão cứ reo hò, tán thưởng, khiêu khích. Lạ thay, trong nỗi bực dọc đó, thư sinh thấy có một niềm sảng khoái dâng lên mỗi chàng ném một tảng đá lớn vào hồ bằng tất cả sức lực bình sinh của mình. Thậm chí có khi chàng còn hét to mỗi lần như thế. Làm náo động cả một khung cảnh thanh tịnh.
Sau một lúc, thư sinh thấm mệt. Cổ khô, tiếng khàn. Chàng định ngồi xuống nghỉ mệt thì ông lão đặt một vật gì đó trong tay chàng, rất nhẹ. Không suy nghĩ, thư sinh ném mạnh. Tiếng xé gió giữa không gian của vật bị ném làm thư sinh giật mình nhìn theo. Than ôi, cuốn thơ của chàng. Ông lão đã thừa lúc thư sinh mệt mỏi, không chú tâm để gạt chàng ném cả tập thơ của mình vào hồ. Thư sinh giận dữ, muốn vung tay đánh ông lão, nhưng không còn sức nữa. Chàng ngồi phệch xuống bờ hồ.
Ông lão ngồi xuống bên cạnh thư sinh và bảo:
- Ta không chạy đâu. Ta sẽ ngồi đây để chờ hình phạt của công tử.
Trong tiếng thở hổn hển của thư sinh, ông lão ôn tồn cất giọng:
- Ta biết công tử đang oán ta. Nhưng công tử hãy nhìn bờ hồ đang lặng sóng. Rồi lắng nghe cảm giác trong lòng mình.
Chỉ tập thơ đang bấp bênh, nhòa mực và chìm trôi dần heo sóng nước, ông lão hỏi:
- Cái gì là thơ? Những giòng chữ công tử ghi chép trong đó chăng? Chúng đến từ đâu. Từ ngoại cảnh làm cho công tử ý thơ dạt dào.
Vỗ mạnh vào ngực mình, ông lão nói:
- Thơ ở đây. Thơ ở đây, công tử ạ. Không là thiên nhiên. Không là ngoại cảnh.
Nhặt một hòn đá nhỏ lão đặt vào tay thư sinh, ông lão nói tiếp:
- Thơ không là hòn đá này, cũng không là tiếng động mặt nước vỡ, không là sóng gợn mặt hồ. Thơ là cơn giận dồn nén thúc đẩy công tử ném tảng đá bằng tất cả sức lực của mình. Mỗi phần trong đó không phải là thơ, mà tất cả sự việc liên tục đó là thơ. Công tử hiểu chứ.
Bàng hoàng với sự thông đạt của người đối diện, thư sinh cảm khái gật đầu. Chàng nói:
- Xem ra, thơ của vãn bối chỉ là chiều ngang của mặt hồ. Cả một đời sống cùng thơ, mà vãn bối chưa hề nghĩ về chiều sâu của nguồn thơ. Hỡi ôi...
Ông lão đặt tay lên vai thư sinh:
- Hiểu, là đã thấy bờ. Công tử chỉ việc bơi dần là tới. Nhớ, đích đến không là vào bờ. Mà là thấy bờ để biết mình là đâu. Từ đâu. Về đâu. Công tử hiểu chứ?
Thư sinh lại gật đầu. Ông lão cười:
- Lao lực thế, bây giờ ta mời công tử về nhà dùng một bữa ăn chiều.
Thư sinh đứng dậy vái ông lão và nói:
- Vãn bối được lão trượng hướng lối như vậy là quá hân hạnh, không dám làm phiền lão trượng thêm nữa.
- Không có gì. Công tử đừng ngại. Vả lại ta muốn hối lộ công tử một bữa ăn chiều vì có chuyện ta muốn nhờ công tử ấy mà.
Nhìn vẻ e dè hiện lên mặt thư sinh, ông lão cười lớn:
- Công tử đừng lo. Ta không đùa gạt công tử nữa đâu.
Thư sinh nhẹ dạ tươi cười. Hai người cùng bước bên nhau rời khỏi bờ hồ. Chợt nhớ một điều, thư sinh ngừng bước, quay qua ông lão hỏi:
- Chẳng hay lão trượng có thể cho biết quý danh là chi?
Ông lão nhìn thư sinh thật lâu rồi điềm đạm đáp:
- Ta sống nơi đây đã lâu, không dùng đến tên họ. Nhưng công tử đã hỏi thì ta cũng thật lòng mà trả lời. Ngày xưa ở chốn kinh đô, người gọi ta là Thôi Hiệu. Nào, ta đi mau. Trời tối rồi....


oOo

Hoàng Hạc Lâu, ba năm sau...
Gã tiểu nhị khó chịu nhìn khách vẫn còn gục ngủ ngay trên bàn. Dưới chân khách là một túi hành trang nhỏ, trên bàn thì ngổn ngang một cái chén và nhiều bầu rượu. Đã sắp đến giờ quán đóng cửa. Gã định đi đến đánh thức khách dậy nhưng chủ quán đã khoát tay:
- Đừng, để công tử ngủ. Nhà ngươi không biết ai đấy sao?
Tiểu nhị lắc đầu. Chủ quán cười nhẹ:
- Mà thôi, ngươi cũng đừng bận tâm. Cứ đóng cửa quán rồi đi ngủ đi.
Hiểu tính hiếu khách của chủ quán, tiểu nhị lắc đầu thở dài, lo dọn dẹp đóng cửa và đi ngủ.

Nửa đêm...
Khách ngẩng đầu ngó quanh. Hoàng Hạc Lâu nằm trong bóng tối dầy đặc. Khách cho tay vào túi hành trang dưới chân tìm một vật gì đó.
- Tối quá...
Khách khẽ thốt rồi bước về phía cửa sổ một bên quán, dáng đi thật nhanh nhẹn, không phải của một người vừa tỉnh ngủ. Khách mở một cánh cửa sổ. Ánh trăng chiếu vào. Khách đặt túi hành trang lên bàn rồi mở ra.
Tách !...
Ánh lửa nhoen lên. Trong tay khách là một cây đuốc nhỏ. Cảnh vật bên trong hiện lên rõ hơn. Khách bức lại bức tường gần cửa sổ nhất và đưa ngọn đuốc cao và gần hơn. Khách lẩm nhẩm đọc:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tịch xuyên lịch lịch Hán dương thu.
Phương tảo thê thê Anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thi.
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Những hàng chữ trên tường hiện ra, mập mờ, bay nhảy trong ánh sáng bập bùng của ngọn lửa. Như những cánh hạc tung tăng. Khách đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Bên ngoài ánh trăng gần rằm chiếu ánh sáng trên dòng sông và vạn vật. Vài đám mây lơ lửng, ửng vàng màu nguyệt quang. Hàng cây trầm lặng như ngàn đời an phận làm bạn cùng dòng sông.
- Thảo nào... thảo nào...
Khách buông tiếng trong cảm khái. Cắm cây đuốc vào một bình rượu cạn, khách bước đến sau quầy xách một bình rượu mới rồi về ngồi xuống chiếc ghế gần cửa sổ. Khách khui bình rượu, đổ ra chén và nâng lên môi. Một chén. Hai chén. Ba chén. Vừa uống mắt khách vừa di chuyển giữa hai hình ảnh. Bên ngoài là cảnh vật yên tĩnh. Bên trong là bài thơ ẩn hiện trên tường. Tuy hai. Mà một. Khách lại tự thốt:
- Phen này ta không thể nào thực hiện lời hứa cùng Thôi lão huynh. Đốt làm sao được bài thơ này. Hủy hoại mà chi. Đâu cần thiết. Mà cũng không sao. Khi gặp lại đúng hẹn ngày trăng tròn tới đây, ta tin Thôi lão huynh sẽ hiểu. Thi thành tự, phi thành sở hữu...
Đưa tay dụi ngọn đuốc, khách mỉm cười ngó ra cửa sổ. Khách nâng chén rượu mới rót lên cao như để mời ai đó. Khách lẩm nhẩm:
- Cử bôi yêu minh nguyệt. Đối ảnh thành tam nhân. Hà... uống rượu như lão huynh họ Lý quả có nhiều thú vị đặc biệt...

Sáng...
Khách giựt mình thức giấc, mở mắt nhìn quanh. Chủ quán thấy khách tỉnh ngủ, bước đến tươi cười ôn tồn nói:
- Công tử dậy rồi à.
Chỉ ngọn đuốc tàn cắm trong bình rượu rỗng, chủ quán nói tiếp:
- Quả là cái hứng của thi nhân có khác. Bán dạ bỉnh chúc, độc thi tam đáo. Mời công tử thay đồ rồi dùng điểm tâm. Nhà bếp đã nấu gần xong món ưa thích mà công tử thường gọi mỗi năm ghé qua đây.
Khách nhìn bó đuốc, nhìn bài thơ trên tường rồi mỉm cười khó hiểu. Khách khoát tay:
- Không cần đâu. Ta đi ngay bây giờ.
Nói xong khách đứng dậy. Chủ quán vội vàng nói:
- Công tử, không mấy khi công tử ghé lại đây. Mỗi năm chỉ một lần. Để ghi lại giai thoại nửa đêm đốt đuốc đọc thơ này, xin công tử lưu lại vài chữ làm kỷ niệm cho người sau thưởng ngoạn.
Nhìn vẻ khẩn khoảng chân thành của chủ quán, và cảm lòng hiếu khách đã cho mình yên ngủ đêm qua, khách gật đầu. Cầm ngọn đuốc lên tay, khách bước về phía bức tường bên cạnh bức tường có bài thơ của bạn mình. Khách nhắm mắt định tâm, rồi mở mắt vung tay ném những vệt than đen từ bó đuốc lên tường. Xong, khách đặt bó đuốc lên bàn rồi quay lưng bước đi không ngó lại. Chủ quán ôm túi hành trang của khách bước vội theo:
- Công tử... công tử... công tử quên hành lý tùy thân...
Khách ngừng bước quay lại:
- Quán chủ hãy giữ lấy. Những thứ trong đó, bán được bao nhiêu, quán chủ dùng để trả tiền rượu đêm qua.
Chủ quán lấy trong túi hành trang ra vài cuốn sánh, đưa lên và nói:
- Nhưng còn những tập này. Thơ của công tử.
Khách dứt khoát xua tay:
- Quán chủ cứ giữ lấy nếu muốn. Còn không, thì vứt đi, đốt đi cũng được. Thơ đâu có trong đó.
Chủ quán nhìn những trang giấy chi chít chữ trong tay, rồi nhìn khách với vẻ không hiểu. Khách cười to và nói:
- Quán chủ đọc những chữ ta viết kia sẽ hiểu.
Nói xong khách vòng tay chào quán chủ rồi bước đi. Chủ quán mừng rở với di bút của một thi nhân nổi tiếng vừa vào tay mình. Lắc đầu, chủ quán bước vào lại trong quán rồi đưa mắt nhìn lên bức tường. Nơi đó, là hai hàng chữ khách đã viết bằng than của ngọn đuốc -
Thi tâm vô tự, thi dung tự
Tự bất tại tâm, thi dĩ tâm



npn





6969




Image


t á c- p h ẩ m

____________________________________________________________________________


1992, viết riêng cho Thúy...



I.
Chàng trở mình thức giấc. Duỗi cánh tay qua bên cạnh.
Lạnh. Và trống vắng.
Chàng bật mình ngồi dậy.
Nàng đã ra đi.
Một tờ giấy nằm dưới bình hoa nhỏ trên bàn.
Đưa tay xoa mặt, chàng ngồi nhìn lá thư. Bất động.
Chàng thả đôi chân xuống giường, bước lại cầm lá thư lên rồi chậm rãi đi ra ngoài lan can của căn phòng trọ nằm trên lầu ba của chàng.
Ánh nắng đang lên cao dần.
Bên dưới, phố xá bắt đầu nhộn nhịp vào một ngày mới.
Chàng ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc đặt bên cạnh cái bàn nhỏ và một chiếc ghế nữa - nơi chàng và nàng đã từng ngồi ăn, ngồi nhìn sao mọc, ngồi trò chuyện đến khuya. Và hôn nhau đắm đuối. Chàng đọc lá thư.


Anh yêu,
Chắc chắn sự vắng mặt của em sáng nay
không làm anh ngạc nhiên.
Cám ơn anh đã cho em ba tuần thật hạnh phúc.
Với anh.
Với con tim em.
Với tình yêu mà em muốn có nhưng
chưa hề đón nhận.
Thật trọn vẹn.

Anh đã từng nói trong cuộc sống,
anh không bao giờ đặt câu hỏi với tình yêu.
Với nghệ thuật. Em cám ơn anh đã không hề
đặc một câu hỏi nào về em.
Về sự có mặt của em.
Về cuộc sống của em.
Chúng ta đã không hề có những câu hỏi cho nhau.
Về nhau. Về thời gian. Về tương lai hay quá khứ.

Em phải trở về với những gì em đã sống.
Với cuộc đời, em xem như
sự gặp gỡ giữa chúng ta chưa hề có thật.
Nhưng em biết anh sẽ tin
khi em nói tình yêu giữa chúng ta có thật
trong em.
Đủ cho em niềm vui.
Đủ cho em hạnh phúc, ở mỗi lần nghĩ đến.
Suốt đời em còn lại.

Anh yêu,
Hẳn anh cũng đã đoán ra,
em vì yêu những tác phẩm nghệ thuật
của anh mà tìm đến. Và ở lại.
Cuộc sống có rất nhiều tao ngộ tình cờ.
Cả đời em, em đã ơ hờ với những tao ngộ tình cờ đó.
Cho đến khi mình gặp nhau.
Em đã đón nhận vào từng nhịp tim mình,
từng hơi thở mình lần đầu tiên em gặp anh.
Thật hân hoan.
Thật hồn nhiên.
Thật chân thành.
Cũng như em đã đón nhận
những giây phút đầu tiên trong đời mình
tình yêu hiện hữu.

Em hạnh phúc khi thấy anh đã
một lần nữa hiến dâng
đôi tay, linh hồn và con tim
cho nghệ thuật sau một thời gian dài chối bỏ.
Anh bảo vì tình yêu.
Vì chúng ta yêu nhau. Và anh đã đoán ra,
em đã ở lại với anh lâu hơn thời gian cho phép.
Cho đến khi anh hoàn thành pho tượng.

Em hạnh phúc khi thấy
anh say mê cùng tác phẩm của tình yêu.
Của chúng ta.
Em biết anh sẽ vui khi biết
em đã mang theo pho tượng đó khi ra đi.
Anh đã nói - Hạnh phúc cho người sáng tạo
là ngay khi người ấy đang hình thành tác phẩm
bằng tất cả linh hồn và con tim mình để
đưa tình yêu vượt ra ngoài
những đóng khung của nghệ thuật.
Và vì hiểu như thế,
nên em tin anh sẽ hài lòng
khi em ra đi đem theo pho tượng -
là hiện thân của tình yêu chúng ta.
Và em tin anh sẽ hạnh phúc
khi biết rằng em sẽ nâng niu và gìn giữ nó,
như em đã,
và sẽ mãi mãi
nâng niu và gìn giữ
tình yêu và hạnh phúc của chúng ta cho nhau.

Một lần.
Là một đời.
Trong em.



Chàng xếp lá thư lại. Nhắm mắt và dựa đầu vào bức tường sau lưng, đón từng tia nắng ấm đang lan dần trên từng phần thân thể. Và nụ cười.



II.
Ông trở mình thức giấc. Và nằm lắng nghe.
Đúng là có tiếng gõ cửa.
Ông thả đôi chân xuống giường, bước lại mở cửa. Trước mặt ông là một người thanh niên với một món đồ ôm cẩn thận trong tay. Người thanh niên hỏi tên ông. Ông gật đầu xác nhận. Người thanh niên xin phép được vào nhà để nói chuyện cùng ông. Nhận ra sự ngần ngại của ông, chàng thanh niên mở món đồ ra. Đó là pho tượng cuối cùng ông hoàn thành hơn ba mươi năm về trước.
Ông lùi người vào trong, nhường lối cho người thanh niên bước vào. Và đóng cửa lại.



III.
Suốt khoảng thời gian từ khi lấy nhau, Thuyên biết vợ chàng lúc nào cũng sống với một khoảng trống trong tâm hồn. Nàng muốn đi tìm người cha mà nàng chưa hề gặp mặt.

Trong lần đầu ra mắt phòng triển lãm, vì muốn giúp chồng, vợ chàng đã xin phép mẹ nàng cho trình bày pho tượng mà mẹ nàng chưng trong phòng ngủ của bà. Sau khi bà từ chối, mẹ con nàng đã giận nhau vì những lời nói nóng nãy sau đó. Vì không muốn thấy mình là lý do của sự bất hòa giữa hai mẹ con, Thuyên đã đứng ra giảng hòa. Đó cũng là lúc bà cho vợ chồng chàng được biết tác giả của pho tượng cũng là cha ruột của vợ chàng. Vì hoàn cảnh gia đình, bà đã lấy một người chồng lớn hơn mình rất nhiều tuổi, không có con được với nhau. Người chồng ấy rất yêu thương bà dù biết rằng bà không yêu ông ta. Trong một chuyến đi nghỉ mát một mình, bà đã gặp, đã yêu một người nghệ sĩ tạc tượng nổi tiếng đã từ lâu ngừng sáng tạo. Và bà đã sống thật trọn vẹn cho tình yêu đó. Sau khi biết mình mang thai, bà nói thật cùng chồng. Và người chồng không hề trách móc, vẫn yêu thương bà và chấp nhận nuôi đứa bé như con ruột. Cảm động với tình yêu bao la, không điều kiện của chồng, bà đã chung thủy sống bên ông cho đến ngày ông lìa đời. Vợ chàng lớn lên không hề biết chuyện này cho đến hôm đó. Cũng như cha ruột nàng cũng không hay mình có một đứa con gái đã lớn khôn.

Dù không nói ra, Thuyên biết từ hôm đó vợ chàng ít vui hẳn đi. Mẹ của nàng cũng vậy.

Và chàng đã đi đến quyết định đi tìm người nghệ sĩ tạc tượng đó. Để làm gì, Thuyên cũng không rõ. Nhưng chàng biết hạnh phúc của gia đình chàng sẽ không được trọn vẹn cho đến khi chàng gặp được ông ta.

Sau ba năm tìm kiếm, Thuyên dò ra ông ta đã ngừng sáng tạo rất lâu. Và hiện đang giữ một công việc thật khiêm tốn trong chương trình sưu tầm kiến trúc cỗ xưa ở Hy Lạp. Và chàng trình bày lại những gì mình biết được với vợ chàng và mẹ nàng.

Sau đó, với sự đồng ý của hai người, chàng đã lên đường sang Hy Lạp với pho tượng trong tay.



IV.
Thuyên đứng nhìn phòng triển lãm với niềm vui man mác trong lòng.

Hôm nay là ngày kỷ niệm bốn năm phòng triển lãm nghệ thuật của chàng được mở cửa. Và cũng là ngày kỷ niệm năm năm thành hôn của vợ chồng chàng.

Lần đầu tiên trong thế giới nghệ thuật, tất cả mọi tác phẩm của người nghệ sĩ nổi tiếng kia được triển lãm chung một nơi. Trong đó có cả một tác phẩm chưa hề được triển lãm trước công chúng bao giờ. Một pho tượng. Và sau ba mươi năm không sáng tạo, người nghệ sĩ đã trở lại với nghệ thuật một lần sau cùng bằng cách hoàn tất một chân dựa cho pho tượng.

Thuyên cười khi nhìn vợ mình đang bước lại gần. Chàng hỏi: Ba mẹ đâu em? Nàng đáp: Ba mẹ đưa con ra công viên thả diều rồi. Thuyên vòng tay qua vai vợ. Và xiết nhẹ ân cần. Nàng tựa đầu vào vai chồng. Và mỉm cười. Nụ cười người vợ chỉ dành riêng cho người chồng mình yêu thương.

Thuyên đưa mắt ngó về góc bên kia của phòng triển lãm. Nơi đó, những người thưởng ngoạn đang trầm trồ đứng trước pho tượng. Không phải chỉ vì pho tượng đẹp. Mà vì pho tượng, trước giờ vốn được đặt trong tư thế nằm, nay đã được đặt đúng tư thế đứng nghiêng của nó, như ý của tác giả, với chân dựa mới. Người ta thấy từ pho tượng và chân dựa, khi được ánh đèn soi bóng lên tường, hình ảnh một người đàn bà đang ngả vào vòng tay đón nhận của một người đàn ông. Một sự ngả vào đầy hạnh phúc. Một vòng tay đón nhận thật trọn vẹn.

Pho tượng và chân dựa được đặt tên là Ký Thác.



npn

_______________________________________________________________________
Năm nào đi công tác ở New York, đi bộ vào Central Park, nhìn thấy pho tượng Romeo & Juliet này của Milton Hebald thực hiện năm 1966. Một khái niệm thoáng qua về sự thành hình của một tác phẩm nghệ thuật, nhìn qua lăng kính tình yêu.


7443




Image


đ ộ c- t h o ạ i- c ù n g- Q U Á I- P H O N G
VHNT Liên Mạng xuất bản, tháng 10, 2000

____________________________________________________________________________


Nỗi phiền muộn tôi còn nguyên vẹn đấy
Đã vào thơ
Xin cứ nhặt làm duyên

Nguyên Nhi


I. MỞ

Cuốn thơ tôi nhận đã gần một tháng. Đã đọc ba bốn lần. Mỗi lần một cảm nhận khác nhau. Dù vậy, mỗi cảm nhận cá biệt đó hứa hẹn trong tôi một tâm tình cùng tác giả, một chia sẻ cùng những người yêu thơ văn sáng tạo.

Chiều nay, sau khi đi làm về, sau giờ phút dành cho gia đình, tôi bước vào phòng đọc sách. Trên bàn là tập thơ Quái Phong. Một chờ đợi. Một gọi mời.

Chỉ mỗi tôi với tập thơ.
Chỉ mỗi tôi, với những câu hỏi.
Chỉ mỗi tôi, với câu trả lời nằm trong tập thơ.
Chỉ mỗi tôi và tôi.
Chỉ mỗi tôi với tôi.

Tôi mở tập thơ ra. Đọc lại lần nữa.
Tôi mở tập thơ ra. Thơ bước về.
Và ngồi xuống thật gần bên cạnh.



II. ĐỘC THOẠI CÙNG... Thơ

- Hãy cho tôi biết về người làm ra Thơ. Có phải hắn đã vào trung tuần bốn mươi. Và từng chiến đấu trong binh chủng hải quân?

Thơ cất giọng trầm, đều:
Bốn lăm năm chưa trọn một hải trình
Triết lý vụn hóa thân chim cánh cụt
Chân lý hão đóng băng hai địa cực
Cùng ai đốt lửa, hải đăng?
...
Chàng thủy thủ gác chân bên bếp lửa
Trông tuyết bay che kín một phương trời
...


- Hắn vào quân ngũ khi còn rất trẻ. Phải chăng hắn đã cưu mang rất nhiều hoang mang, nhiệt cuồng của tuổi trẻ lớn lên trong chiến tranh lửa đạn?

Giọng Thơ trở nên tha thiết:
Tháng chạp tháng giêng bầy cá chuồn bay đầu sóng
Hay những cánh én lao chao
Anh không biết
Có thể tuổi trẻ thường nhầm lẫn giữa chim và cá
Anh không biết
Chúng mang mùa xuân đi đâu


Tôi hồi tưởng lại tuổi thanh niên mình, gật đầu cảm khái và tiếp:
- Nhưng vào lính rồi, tham dự vào đạn bom sinh tử, hắn có khi trở nên phẫn nộ. Phải không?

Thơ nhếch môi thành một nụ cười ảm đạm:
Từ những hàng cây bã đậu của ta
Ném xuống trăm năm bài ca chính khí
Gạn mặt cuộc người, tung gai lũ khỉ
Phản chiến ma cô, miệng đĩ hòa bình
...
Lửa loạn đầu thành, ven đô giặc pháo
Cuống phổi thơ non hộc máu căm hờn


Tôi hỏi:
- Rồi sau cuộc chiến, hắn đi tù, hắn rời quê hương. Đối diện với đổi thay và những trói tay của nhu cầu cuộc sống mới, hắn ra sao?

Hiểu câu-hỏi-sau-câu-hỏi của tôi về tâm trạng buông xuôi phó mặc của nhiều cựu chiến binh bất đắc chí, Thơ lắc đầu:
Thì ra mình còn có thể ngạc nhiên
Dù chuyện nhỏ tỉ sớm mưa chiều nắng
Lúc lý sự với phòng không nhà vắng
Cái ngông nghênh phớt tỉnh trốn đâu rồi


- Nhưng hắn đâu đã chối bỏ những giấc mơ cho quê hương của mình trong suốt thời gian đi lính, đi tù. Hơn thế nữa, hắn vẫn tiếp tục mơ-để-sống mà, có đúng thế không? Dù chỉ là những giấc mơ của loài gà, loài dế mong được một lần trọn vẹn tiếng gáy của lương tâm.

Ánh mắt Thơ trở nên rạng ngời. Chừng như Thơ tìm thấy trong câu hỏi của tôi một người đồng tâm trạng:
Em, này Okla
Ta xao xác đã bao lần đập cánh
Bay được bao xa?
Ta khào khạo đã mấy lần gân cổ
Gáy có tròn hơi?
...
Con dế khua tình trên cánh mỏng
Cỏ non sương chân nhỏ rủ ta về
Này Okla,
Từ thiên địa hôn mê
Ta ngưỡng vọng vô cùng con dế lạc
...
Nên mỗi tháng tư ta vẫn buồn nát lệ
Dù trăm năm ta một trận đùa dai
Nên mỗi tháng tư ta lại giận hết kể
Dù trăm năm ta một giấc trưa dài


Tôi nhắm mắt lại, hình dung ra đôi lần gặp hắn. Tóc đã bắt đầu điểm sương. Dáng cao, gầy. Giọng trầm buồn, từ tốn. Tôi "thấy" hắn. Tôi mở mắt nhìn Thơ và hỏi:
- Nhưng hắn, sau cuộc đổi đời, trở nên vị tha hơn một chút, yếm thế hơn một chút, phải không?

Thơ gật đầu với nụ cười đồng lõa:
Sợi tóc bạc nửa đêm rơi mặt gối
Màu trắng phơ phơ chứa đựng điều chi...
...
Để mỗi lần con vấp ngã đau thương
Nhớ má mà đứng dậy
Để những khi bị hành hạ khổ ải
Nhớ má mà thứ tha


Phát giác ra một điều bất chợt. Tôi thích thú hỏi:
- Tại sao? Tình yêu? Hắn tìm cho trái tim mình một nơi chốn dừng chân?

Nét bối rối hiện lên dung nhan Thơ. Sau một lúc ngập ngừng, Thơ xác nhận:
Buổi gặp em trăng hiền như thu gió
Bay một lần vàng động đến trăm năm
Khinh bạc ta mà sao bỗng ân cần
Trân trọng giữ từng nhành cây ngọn cỏ


Đứa trẻ trong tôi trở về. Tôi nghịch ngợm chất vấn:
- Nàng là ai? Phải chăng là bến bờ của chàng thủy thủ thất lạc trái tim non trẻ, xưa? Và là hải đăng của con thuyền bấp bênh trên trùng đương thách đố phận người lưu lạc, nay?

Giọng Thơ hiền hòa:
Vì đâu em trên từng bước chông vênh
Lại dìu được anh qua bờ đại vực
Anh chợt hiểu ra điều u hiểm nhất
Khi bên trời một cánh mỏng mây qua


Tôi hối hận với sự đùa dai của mình. Tôi bày tỏ và chia sẻ:
- Tôi nghĩ hắn đang hạnh phúc, Thơ ạ. Với trái tim hắn. Với khốn khó cuộc đời. Với nàng. Và với hắn-trong-nàng.

Thơ ghi nhận điều tôi nói:
...Tình bắt nguồn từ ngộ nhận
Nên không là bất hạnh của riêng ai
...
Hạnh phúc có khi đơn giản vậy, hải đăng
Nên đêm lưu xứ bỗng vui ngút mắt
Hỡi những ngọn đèn biển bờ Tây Bắc
Thênh thang ta đã có một phương về


Thấy tôi gấp tập Quái Phong lại, Thơ đứng dậy ra về. Tôi không giữ lại. Thơ cũng không bịn rịn. Chúng tôi hiểu nhau, cái lưu luyến sẽ chỉ bắt đầu từ khi khuất mặt. Và những hẹn hò vốn là nguyện ước của chia tay.

Tôi rời phòng đọc sách.
Bước qua phòng con tôi, giấc ngủ vẫn thần tiên.
Về lại phòng ngủ mình, đặt lưng xuống giường. Vợ tôi, trong giấc ngủ, đưa tay đặt lên ngực tôi âu yếm.
Trong tĩnh lặng đêm yên, tôi biết mình hạnh phúc.
Cám ơn Thơ.



III. KẾT

Tôi tin rằng mỗi chúng ta có nhiều ngăn trong một trái tim. Mỗi chúng ta có nhiều gương mặt phải mang để đáp ứng cho nhu cầu của cuộc sống, của linh hồn, của mất mát lớn, của cưu mang nhỏ. Điều quan trọng, cho tôi, là tôi đã sống chết trọn vẹn, đã dâng hiến thủy chung cho những ngăn nhỏ của trái tim tôi.

Câu hỏi thỉnh thoảng tôi đặt ra cho chính mình là tôi đã sống thật hay dối gian với mình khi tôi phải mang những gương mặt khác nhau kia. Câu trả lời không năm trong một thời điểm nào của đời người, mà chỉ hiện chân khi cuộc đời đã chấm dứt.

Tất cả còn lại, là một hành trình. Của hơi thở tử sinh. Của nhịp đập thời gian. Của thăng trầm hạnh phúc. Trong hành trình đó, mỗi chúng ta là mỗi con thuyền đi tìm cho mình một bến bờ, một ngọn hải đăng. Để biết mình hiện hữu. Để nhận là chân dung.

Quái Phong là âm bản của hải trình Nguyên Nhi, mà mỗi bài thơ là một dấu khắc lên nền gỗ của mạng thuyền hưng phế. Và như chính tác giả đã thổ lộ:

Nhưng, xét cho cùng, ai chẳng có cho riêng mình một ngọn hải đăng?
Hãy cứ đi tìm.
Quanh đời bão lộng.

Nguyên Nhi



npn





7843 top -
s á n g t ạ o , v à d ò n g s ô n g . . .
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7
_______________________________________________
Tình Thơ Mùa Thu - thơ - Hoàng Thy Mai Thảo _______________________________________________

Image

Dưới ánh trăng thu lẻ bóng hình
Ta ngồi đợi mãi lúc bình minh
Chờ cơn gió nhẹ mơn ngàn nắng
Tự hát ru mình mộng nhân sinh

xem tiếp...

_______________________________________________
Ngữ... - văn - Phạm Chi Lan _______________________________________________

Image

Ðôi khi, thời tiết khí trời đem đến cho tôi những ngày sầu mang mang, chỉ thấy trống vắng và lâng lâng khi nhìn mầu nắng quái thoi thóp lấp lánh trong một vòm cây. Vài con chim về ngủ sớm trên cành, và những gợn gió nhẹ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Về Từ Vô Vọng - nhạc - Hoàng Đình Bình _______________________________________________

Image


xem tiếp...

_______________________________________________
Thu Hồng Một Thuở - ảnh - violetdehue _______________________________________________

Image


xem tiếp...