THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image
t â m- t h o ạ i-
v ớ i- t i m

____________________________________________________________________________




Trái tim ta, từ bé thơ cho đến khi thạo đời, đã biến dạng và biến trạng. từ nhỏ bé ngây thơ, qua căng bừng mạch sống, đến chai đá khô cằn.


ngỡ.
ở bình nguyên từng trải phong trần nào đó, nó đã quen với cay đắng ngọt ngào, đã ù lì với nóng cháy giá băng, đã thờ ơ với đỉnh cao vực thẳm.


ngỡ.
mỗi Xuân trôi đến, nó hết rộn ràng cùng ngàn hoa đua nở. mỗi Hạ về, nó chẳng nao nao với tiếng vỹ cầm của loài ve. mỗi Thu sang, nó thôi bàng bạc khi bướm bay ngàn lá. mỗi Đông ru, nó ngủ vùi trong rét buốt tái tê.


đêm.
với một cơn mưa.
nó bàng hoàng thức giấc trong một hiện tượng hiếm hoi giữa đất trời giao mùa hợp cẩn. dưới ánh trăng khuyết ngời sáng giữa vòm khuya trong vắt, nó chứng kiến chiếc cầu vồng mọc dưới ngàn sao.
nó lại bắt đầu nghe lại được nhịp đập chính mình.
bắt đầu biết nhiệm mầu, là sự biết-mình-đang-sống.
bắt đầu sống, vì biết mình-chính-nhiệm-mầu.


sáng.
nó thấy tất cả đều khác.
vẫn hoa, nhưng hoa tươi hơn sắc thắm. vẫn ve, nhưng ray rứt thủy triều. vẫn lá, nhưng diệp phong khởi sắc. vẫn băng, nhưng ngập trắng không gian.
vẫn nó trong ta, nhưng ta dễ vui, dễ buồn, dễ cười, dễ khóc, dễ thơ thẩn cùng mây, dễ lang thang với gió, dễ một mình hạnh phúc, dễ thị tứ bâng khuâng, dễ yêu mình yếu đuối, dễ tha thứ được thua, dễ ta-nhìn-ta-khác...


vẫn ta.
vẫn ta-già-hơn-ta-lúc-trước.
vẫn ta-trẻ-hơn-ta-ngày-sau.
vẫn ta, yêu thương, thuở-tim-còn-say-ngủ.
vẫn ta, yêu thương, khi-tim-thức-giấc-đời.


ta khác, vì tim đã khác.


nhưng vẫn là ta, vì
ta vốn khác tự thuở-tim-còn-ngủ-đã-yêu-thương.




npn





4103




Image
t ì m- n ơ i- k h u ấ t- g i ó

____________________________________________________________________________




Đặt gánh đồ trên vai xuống, gã thư đồng quay lại hỏi chàng công tử vừa đứng lại sau lưng:
- Thưa công tử, chúng ta có thể nghỉ đêm ở đây được không ạ?
Đưa mắt nhìn hai cánh cổng chùa cũ kỹ khép kín và bức tường loang lổ rêu xanh, chàng công tử gật đầu:
- Mi hãy gõ cửa thử xem.
Gã thơ đồng quay lại và đưa tay nắm lấy cái khoeng sắt trên cánh cửa và gõ khẽ đôi lần, như sợ rằng nếu gõ mạnh quá, cả cánh cửa và bức tường sẽ đổ sập xuống. Sau một hồi lâu không thấy ai trả lời, gã thơ đồng lại gõ cửa thêm lần nữa, lần này mạnh hơn lần trước. Vẫn không ai trả lời. Bực mình, gã thơ đồng vừa định gõ lần thứ ba thì cánh cửa bật mở ra, thật chậm, với tiếng kẽo kẹt của những then chốt lâu ngày không chuyển động. Từ sau lưng cánh cửa, một vị sư già bước ra với đôi mắt sáng và hiền từ. Ánh mắt nhìn vào gã thơ đồng và chuyển sang chàng công tử, rồi dừng lại. Vị sư già cất tiếng hỏi:
- Chẳng hay hai vị có chuyện chi?
Bước đến trước mặt gã thơ đồng, chàng công tử vòng tay lại cung kính đáp:
- Chúng tôi lỡ đường lạc đến đây, muốn qua núi mà đêm thì sắp xuống. Xin đại sư rộng lòng cho tá túc qua đêm nay.
- Tội nghiệp thì thôi. Núi này quanh đây không có ai cư ngụ cả. Chỉ có bần tăng và cầm thú. Thôi hai vị hãy vào đây rồi mình sẽ nói chuyện sau. Dù sao cũng hãy nghỉ lại đây một đêm rồi hãy đi.
Rồi vị sư già bước vào trong, nhường đường cho hai người khách trọ đi vào và khép cánh cửa chùa lại. Bên ngoài màn đêm đã buông mình xuống, phủ kín chung quanh.


Chàng công tử ngồi lặng yên nghe vị sư già gõ hồi chuông cuối cùng mà nghe lòng mình lâng lâng, nhẹ nhàng, như làn hương trầm trên bàn thờ Phật từ từ bay lên và tan loãng dần vào không gian. Đặt dùi chuông xuống, vị sư già ngồi xếp bằng vô động thật lâu với đôi mắt khép nhẹ lại và hai bàn tay duỗi thẳng ra đặt ngửa lên mỗi đầu gối. Không gian thật yên tịnh. Chàng công tử như bị cuốn hút vào sự cô lặng đó trong một niềm sảng khoái của hư vô. Hồi sau, vị sư già mở mắt ra, từ từ đứng dậy, cúi mình chấp tay xá pho tượng Phật ba lần, rồi nâng cây đèn cầy nằm trên chiếc dĩa nhỏ bước về phía chàng công tử đang ngồi. Đặt nhẹ cây đèn cầy xuống bàn, vị sư già hiền hòa nói:
- Công tử nên đi nghỉ sớm để lấy sức mai lên đường.
- Bạch thầy, con ngồi nghe thầy tụng kinh mà lòng con nghe như không còn vướng bận điều gì cả. Bạch thầy, nếu thầy cho phép, con xin được ở đây thọ pháp cùng thầy, để sớm tối học kinh đọc kệ.
- Công tử muốn thế, nào khó gì đâu. Nhưng đạo pháp đâu phải là chốn cho ta chạy trốn nợ hồng trần. Hơn nữa, công tử cũng chưa biết được mình có thật sự đi trọn con đường này không. Làm sao mà có thể một sớm một chiều quyết định như thế.
- Bạch thầy, chẳng dấu gì thầy. Con vốn họ Trần, giòng dõi Trần Vương. Nay vì chạy trốn sự truy tầm của giặc mà lạc bước đến đây. Suốt đêm nay nghe thầy tụng kinh, lòng con nghe nhẹ hẳn nợ trần ai. Ắt là cũng có duyên với đạo. Xin thầy mở rộng cửa lòng cho con theo học đạo pháp, bắt đầu từ hôm nay.
Nhắm đôi mắt lại trong chốc lát, vị sư già lại mở mắt nhìn chàng công tử mà nói:
- Thôi được. Ta cũng chưa biết là duyên hay là nghiệp. Công tử cứ ở đây, nhưng chỉ nên ngày ngày theo ta đọc kinh niệm kệ. Cho đến khi nào thấy rõ nghiệt căn đã dứt hay chưa.
Gã thơ đồng lúc đó bước ra từ bên trong, hai tay nâng mâm đựng hai chung trà. Đặt nhẹ hai chung trà trước mỗi người, gã thơ đồng lùi lại và xuôi hai tay đứng thật yên đằng sau lưng chàng công tử. Hương trà thơm thoảng nhẹ như những lời nói của vị sư già thấm nhập vào tâm hồn chàng công tử. Gã thơ đồng vẫn đứng im lặng và bất động sau lưng.


Nhìn những hoa mai vàng rung rinh đùa trong gió, chàng công tử mỉm cười và ngâm nhẹ vài câu thơ. Bỗng gã thơ đồng hớt hãi chạy vào. Gã chưa kịp nói gì thì chàng công tử đã gắt nhẹ:
- A Phúc, ngươi làm gì mà vội vàng đến thế. Không biết sư phụ đang tĩnh tâm hay sao?
- Ta đã xong rồi. A Phúc, chuyện gì thế?
Câu trả lời vừa dứt, vị sư già đã bước ra đến khu rừng mai sau chùa. A Phúc, gã thơ đồng, vội vàng quì xuống, hai tay cung kính chấp lại và nói:
- Bạch thầy và chủ nhân, A Phúc tôi nhận thấy mình phận tôi đòi kém học, nên chắc không có duyên cùng kinh kệ. Xin thầy và chủ nhân cho tôi xuống núi để trở về với thân phận tục nhân.
Khoát tay bảo chàng công tử lặng im, vị sư già nhìn gã thơ đồng đang quì trước mặt và hỏi:
- Người hãy đứng dậy. Và nói cho ta biết chuyện gì đã xảy ra hôm nay.
Đứng lên từ dưới đất, gã thơ đồng khoanh tay lại thưa:
-Bạch thầy và chủ nhân, tôi vốn được theo chủ nhân từ nhỏ. Cùng chủ nhân đến đây hầu hạ thầy và chủ nhân đã được mấy mùa trăng. Lúc nghe thầy thuyết pháp, lòng cũng biết nghe điều hay lẽ phải, cũng biết học chữ nhẫn chữ kiên. Suốt thời gian qua, mỗi lần xuống núi mua rau, đổi củi tôi đã chứng kiến nhiều cảnh bất công mà vẫn cố nhịn nhục vì muốn làm theo lời thầy khuyên dạy. Cho đến hôm nay...
- Hôm nay sao?
Hít một hơi thở dài, gã thơ đồng đứng thẳng lưng hơn đáp:
- Hôm nay tôi xuống núi mua gạo, gặp cảnh bọn giặc đi lấy thuế muối của người dân. Tội nghiệp thì thôi, bấy lâu nay đất nước bị bọn chúng hoành hành, dân thì đói khổ, nào có chi đâu để ăn để sống. Thế mà chúng lại còn tăng thuế muối năm nay, tiền đâu mà đóng. Không có tiền đóng thì bị chúng đánh đập, giam giữ. Bấy lâu nay tôi cố nhịn nhục, nhưng hôm nay, sau khi thấy cảnh chúng đánh một ông già và cột tay cho ngựa kéo lăn lóc trên đường, tôi không nhịn được cơn giận, đánh cho chúng một trận. Tôi đánh gục hai tên và bị chúng lùng rượt quanh chợ. Cũng may được người dân giúp che dấu, tôi mới trốn thoát được về đây.
Ngừng lại một chút, gã thơ đồng nói tiếp:
- Bạch thầy cùng chủ nhân, A Phúc tôi kém hiểu biết. Nhận thấy rằng A phúc tôi vốn lỡ sinh ra làm người, nên có tu mấy đi nữa, ắt kiếp này vẫn không mong giải thoát. Vả lại, vốn không có duyên nên chẳng thấy được cái có cái không. Nên A Phúc tôi xin thầy và chủ nhân cho phép tôi xuống núi, trở về thân phận phàm phu, để khỏi làm ô uế cửa thiền và liên lụy đến công việc tu hành của thầy và chủ nhân.
Sau một thời gian suy nghĩ, vị sư già thở dài nói:
- Thôi, được. Ngươi cứ tự tiện xuống núi. Âu cũng là nghiệt căn kiếp trước vậy.
Và vị sư già trở bước vào căn phòng của mình để bắt đầu công phu thiền định. A Phúc cũng quì xuống bái biệt chủ nhân rồi quay về phía nhà bếp, nơi hắn tá túc bấy lâu nay, để chuẩn bị khăn gói xuống núi. Chàng công tử đứng ngỡ ngàng nhìn mọi chuyện. Và ngỡ ngàng hơn khi thấy rằng những hoa mai đã rụng xuống, đang nằm yên trên mặt đất, vì một cơn gió mạnh thổi đến. Không biết lúc nào.


Xong giờ thiền định, chàng công tử bèn châm hai chung trà nóng đặt xuống bàn và ngồi chờ vị sư già đang còn ngồi nhập định. Công việc này vốn là của A Phúc, nhưng vì A Phúc đã xuống núi từ hồi chiều, nên chàng phải làm lấy. Lát sau, vị sư già bước ra và ngồi xuống bên cạnh chàng công tử. Vị sư già thốt:
- Trần công tử có biết tối nay ta ngồi nhập định, nhưng tâm thần không được thanh tịnh như mọi hôm. Công tử có biết tại sao không?
- Dạ không, xin nhờ sư phụ chỉ dẫn.
- Vì những điều A Phúc nói đó.
- Bạch sư phụ, đệ tử vẫn còn mơ hồ. Xin sư phụ cắt nghĩa cho.
Hớp một ngụm trà nhỏ, vị sư già nói:
- Công tử xem, ta cũng như công tử vốn sinh ra làm kiếp con người. Ắt rồi cũng có ngày nhắm mắt. Cái chết của chúng ta vì đã sinh ra làm người là điều dĩ nhiên. Còn cái chết của Phật ta nghĩ ắt là điều ngẫu nhiên, cho chúng sinh. Khác là chỗ đó. Ta tu hành mà chết thì gọi là thoát sinh nhập tử. Cái chết của Phật thì gọi là nhập Niết Bàn, giải thoát sinh tử luân hồi. Gẫm ra một điều. Ta e rằng cái mức tựu thành của sự tu hành của ta, xem ra, còn kém cả cái mức tựu thành của A Phúc. Ta vì ngộ đời nên lên núi tu hành. A Phúc vì lên núi tu hành nên ngộ mình mà xuống núi. Nào đâu có đạo để gọi là ngộ đạo. Tất cả, là Pháp. Tu, là chấp Pháp. Không tu để mà tu, cũng là chấp Pháp. Ngộ đời trong mình. Và mình trong đời. Là thức đó.
Vị sư già lại thở ra mà nói:
- Ta xem chừng mai này chỉ còn mình công tử nơi đây.
- Bạch sư phụ, còn sư phụ đi đâu?
- Ta vốn không phải là Phật, nên nào có thể ngồi đây thuyết pháp độ người. Ta lên đây tụng kinh để mong Phật chứng giám mà độ ta. Trong khi Phật vốn đi thuyết kinh cho chúng sinh trong ta bà thế giới. Nên ta chỉ muốn giúp chúng sinh thoát khổ. Ta sẽ xuống núi, đem những điều học hỏi để giúp chúng sinh đang khốn khổ bớt bị khốn khổ làm điêu đứng. Và ta muốn giúp chúng sinh bằng cách chịu khổ cùng họ. Vì họ là ta, và ta là họ. Ta phải chịu cùng cái khổ của họ mới giúp họ bước ra từ cái khổ đó được. Như ta đã nói cùng công tử, đạo pháp không phải là nơi chạy trốn trần gian. Đạo pháp là nơi ta tranh đấu để thắng chính mình, thắng cái bản ngã của mình. Và sau đó đi giúp chúng sinh. Mà muốn thắng mình, ta phải biết chân tướng của mình thật rõ. Xem ra, A Phúc đã đạt được điều đó, hơn ta.
Chàng công tử gục đầu xuống thấp, và hỏi:
- Bạch sư phụ, thế thì đâu là đạo pháp.
Vị sư già chỉ vào tim mình đáp:
- Đạo, ở đây. Mà không ở đây. Vì thế mà đạo ở mọi nơi mà không nhất định là nơi nào hết. Công tử có nhớ chuyện đức Phật ngày xưa có nói khi ta thấy con hổ đói, thì ta phải đưa mình cho hổ ăn thịt không?
- Dạ nhớ.
- Đạo là thế đó. Không phải thấy con cọp đói là đưa mình cho nó ăn mà đủ. Phải đưa mình cho nó ăn như thế nào để khi nó ăn ta rồi, nó không ăn người khác nữa. Công tử hiểu không?
- Dạ hiểu.
- Ở dưới chân núi kia, bọn giặc là cọp. A Phúc là kẻ đánh cọp cứu dân. Ta chỉ muốn cọp ăn ta rồi thì hết ăn kẻ khác. Thế thôi. Thế nên, từ nay, ta với đạo và đời, là một. Là không. Phật cũng không. Thiền cũng không. Là thế đó. Lấy đạo làm đời. Nhập đời, thấy đạo. Duyên của ta và công tử ở ngôi chùa này đến hôm nay là hết. Có duyên nữa,thì là giữa chốn trần gian.
Vị sư già lại đứng dậy nói:
- Bắt đầu từ bây giờ, sư phụ cũng không, mà đệ tử cũng không. Công tử hiểu ý ta chứ?
- Dạ.
Vị sư già bước về phòng mình. Chàng công tử vẫn còn ngồi đó một mình với chung trà chưa uống. Sau một hồi nhắm mắt lặng im, chàng công tử mở mắt ra, mỉm cười. Và chàng đứng dậy, bưng chung trà ra tưới vào gốc mai và tự thốt:
- Hoa đẹp.
Xong, chàng cũng quay về phòng mình, sau khi đặt chén trà không của mình bên cạnh chung trà đã uống cạn của vị sư già. Cả hai chén đều được đặt nằm úp xuống.


Trời vừa chuyển sáng. Hôm sau.
Từ sau lưng cánh cổng chùa vừa mở, có một chàng tráng sĩ bước ra với thanh kiếm báu cài gọn sau lưng. Chàng quay lưng lại để đóng cánh cửa chùa, vì chùa không còn ai trụ trì. Một ý nghĩ thoáng qua đầu, chàng tráng sĩ lại trở bước vào trong chùa. Lát sau chàng lại bước ra, tay cầm một tờ giấy, mực còn ướt với vài giòng chữ. Dán tờ giấy lên bức tường, nơi gần cửa chùa, chàng tráng sĩ bèn đẩy mạnh cho hai cánh cửa chùa mở toang ra. Và chàng băng mình xuống núi. Tờ giấy đọc như vầy:
"Vốn là chùa, nhưng không phải là chùa.
Cửa mở để đón kẻ lạc đường.
Sau chùa có bếp, có củi.
Kẻ dùng trước nhớ nên đốn củi để dành cho kẻ lạc đường đến sau."


oOo


Kể xong câu chuyện, ông Độ quay lại nói với Hoàng:
- Thôi, con coi chừng đào dầu lên đi. Ghe gần đến rồi, kẻo trễ.
- Dạ. Thưa thầy, con có một điều muốn hỏi thầy.
- Con hỏi đi.
- Sao thầy không đi chung cùng con?
Ông Độ nói:
- Thầy không đi là vì công chuyện ở đây cần thầy hơn. Với số tuổi và vai trò của thầy, con cũng biết là thầy phải và nên ở lại để giúp những đứa học trò khác nữa. Thầy dạy công dân đã hơn bốn mươi năm rồi. Đứa nào là học trò của thầy, thầy đều xem như con ruột. Con hiểu ý thầy không?
- Dạ hiểu.
- Vậy thì con cũng phải hiểu luôn rằng lần này con lên đường tức là làm một chuyến đi mới. Sự ở lại của thầy cũng là một chuyến đi, nếu nhìn từ một khía cạnh khác. Điều quan trọng là lúc nào con cũng phải nhớ rằng mục đích cuối cùng của một chuyến đi không phải là để đến. Mà là để đến nơi mình muốn về. Nơi chốn về là nơi mà khi mình đến đó, mình biết là mình sẽ ở lại mà không còn phải đi đâu nữa. Con hiểu không? Tất cả những nơi đến khác chỉ là chốn tạm dừng chân, chỉ là những giai đoạn phải đi qua, con hiểu không?
- Dạ hiểu.
- Thôi, con lo đào dầu lên đi là vừa. Thầy chúc con đi mạnh giỏi. Và thành công với những gì thầy trò mình cùng ao ước.
Nói xong, ông Độ bước xuống nước đẩy chiếc xuồng nhỏ của mình xa bờ và leo vào chèo đi, không một lần ngó lại đứa học trò của mình. Hoàng đứng trông theo cho đến khi tiếng chèo của ông Độ nhỏ dần và im hẳn. Xong, Hoàng quay lại đào những thùng dầu dấu gần đó lên. Tìm một nơi khuất gió, Hoàng ngồi xuống chờ. Chung quanh vẫn là bóng đêm. Nhưng Hoàng có cảm giác rằng bóng đêm, cũng như chàng, đang nôn nao đợi chờ ánh đèn nhỏ của chiếc ghe chiếu đến. Để buổi sáng mai về, biển sẽ đón chàng bằng tia nắng sớm tự do.
Giữa bóng đêm. Giữa sự đợi chờ trong im lặng đó, Hoàng vẫn tưởng như mình còn đang nghe tiếng mái chèo của ông Độ, đang vỗ nhẹ xuống mặt nước bì bõm, vang vọng về văng vẳng. Đâu đây.




(Nhân Văn, 1988 - chép lại và bổ túc tháng 1, 1996)

npn





4240




Image

l ờ i- t r ố i- t r o n g
đ ê m
- V A L E N T I N E

____________________________________________________________________________




Một đêm, trong cơn đau mê sảng của cơn bệnh trầm kha, hắn thấy mình đến trước một vị thần có đôi cánh trên lưng, tay cầm chiếc nỏ. Vị thần nói nếu hắn làm theo lời vị thần chỉ dạy về tình yêu, hắn sẽ được ban cho sự sống. Hắn chỉ mặt vị thần mà bảo:
- Ngay cả chính nhà ngươi cũng chưa hề biết yêu ai, chưa biết tình yêu của người trần thế ra sao, thì quyền năng gì nhà ngươi chỉ dạy ta.
Hắn đưa tay giựt chiếc nỏ của vị thần, bẻ gảy nó đi. Vị thần tức giận vung tay ném một tia sét về phía hắn...
Hắn bừng tỉnh. Hắn nghe mạch sống cạn dần trong thân thể mình. Hắn với lấy cây bút, chép thật nhanh những giòng chữ lên mặt chiếc khăn tay cô gái để lại sáng nay. Hắn đặt cây bút xuống. Hắn nhìn người bệnh nhân bên cạnh. Cả hai cùng mỉm cười. Và hắn nhắm mắt lại, lần cuối.


Sáng hôm sau, cô gái vào thăm người bệnh nhân vô thừa nhận. Cái giường hắn nằm hôm qua bỏ trống. Người bệnh nhân nằm giường bên cạnh đưa tay ngoắc nàng. Khi nàng đến, hắn dúi một món đồ vào tay nàng.
Nàng mở khăn tay của mình ra, và đọc.
Đọc xong, nàng đưa mắt ngó về cái giường trống lần nữa. Rồi nàng quay lưng bước ra khỏi phòng bệnh nhân, và bắt đầu một ngày mới làm việc thiện nguyện trong bệnh viện này.
Với nụ cười trên môi.




npn





4354




Image

l ờ i- t r ố i- t r ê n-
k h ă n- t a y- N À N G

____________________________________________________________________________




1.
không có nhau, để nhớ
không có nghĩa là
không nhớ,
để có nhau.


2.
sống cho nhau -
dễ !
cho nhau, để sống -
khó !


3.
hạnh phúc
là có nhau hôm nay
để sống.

yêu thương
là biết sống làm sao
để có nhau ngày mai.


4.
có nhau
ta sống để yêu em !
mất nhau
ta yêu em
để sống !


5.
không có một tình yêu xứng đáng,
chỉ có
những tình nhân
sống không xứng đáng với tình yêu mình.


6.
khi ta tìm được ý nghĩa
của cuộc sống
trong sự yêu thương,
đó là khi
yêu thương
đem ý nghĩa
đến cho cuộc sống ta.


7.
yêu thương
không bao giờ là sự lựa chọn,
mà là sự lựa chọn một thái độ
để đến, và ở lại, với tình yêu.


8.
yêu -
không bao giờ là có thể
mà là phải là

thương -
không bao giờ là nghĩ
mà là biết

tình yêu -
không bao giờ là nếu



dưới những giòng chữ trên là chữ ký nguệch ngoạc của Hắn




npn





4361




Image

P h ạ m- C ô n g- T h i ệ n
t ậ p- t h ơ
-
N G À Y-S I N H-C Ủ A -R Ắ N

____________________________________________________________________________




Đọc Phạm Công Thiện tôi hình dung ra một triết gia có trình độ chuyên môn rất uyên thâm, đã đi-thấy-nghe-học được cho chính mình những tư tưởng mới lạ.


Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực
Im Lặng Hố Thẳm
Chỉ Còn Tiếng Thơ Trên Mặt Ðất
Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất
Bay Ði Những Cơn Mưa Phùn

Là tên những tác phẩm của Phạm Công Thiện. Tôi không phải là người chuyên nghiên cứu về triết học. Cũng không phải là một người đọc và biết nhiều về Phạm Công Thiện. Những cuốn sách của Phạm Công Thiện mà tôi đọc được đã cho tôi một ấn tượng như trên về ông - một triết gia.


Một điều tôi không thích về những gì tôi đọc của Phạm Công Thiện - Tôi có cảm giác như ngoài mục đích ghi nhận lại tư tưởng của mình qua tác phẩm, Phạm Công Thiện muốn bắt tôi phải nhìn thấy sự hiểu biết, học vấn uyên thâm và trình độ chuyên môn của ông. Và nhất là bắt tôi phải nhìn những gì mới lạ, hay ít ra, mới lạ theo góc nhìn của ông.


Tôi nhớ có lần tôi đọc báo Văn, lâu rồi. Ðại khái Mai Thảo có viết về việc Phạm Công Thiện "diện bích" - tịnh khẩu, tịnh thực, tịnh tâm. Ấy thế mà vẫn bút đàm với Mai Thảo khi Mai Thảo ghé thăm - Ðọc tới đây, tôi tự hỏi bút đàm là tịnh gì?... Thêm vào đó, Phạm Công Thiện còn cho hay là qua thời gian diện bích này, ông hy vọng sẽ làm một chuyến đi mới, đến một nơi không phải thế giới loài người?!? Tôi lại nghĩ - là làm sao - chỉ trừ khi... chết đi! Còn muốn đi chơi trong tư tưởng thì lúc nào mà chẳng được. Chịu. Không hiểu nỗi. Cũng không hỏi.


Từ đó, tôi không đọc Phạm Công Thiện nữa. Và tôi vơ đũa cả nắm. Tất cả các tác phẩm của ông tôi đều nhìn với thái độ như trên. Ðó là cái bậy của tôi.


Cách đây năm năm, một người bạn gọi điện thoại. Sau vài câu thăm hỏi, người bạn đọc cho tôi vài đoạn thơ:
...
tôi về
tôi hiện
đèn tắt trời gió tắt trăng
chim lạ
kêu tiếng người
hố thẳm ra đời
tôi bay trên biển...

...
tôi trốn giặc đời
tắm trong hồn hương
trái đu đủ
trong khu vườn xưa
con rắn nhỏ...

...
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông

...
tay còn ôm giữ tình yêu
tôi về phố động những chiều hư vô
đời đi trên những nấm mồ
đau tim em hát cơ hồ khăn tang...

...
quá khứ bay lên trời
hóa thành cánh chim non
tôi quì hôn lá mới
đau khổ trắng linh hồn...

Và hỏi: Thích không? Thích quá đi chớ. Tôi hỏi: Thơ ai? Người bạn đáp: Phạm Công Thiện, Ngày Sinh Của Rắn. Người bạn lang thang khu chợ Bolsa, ghé các tiệm sách. Thấy cuốn thơ trên nằm nơi góc kẹt - bán sale. Biết lối nhìn tác phẩm Phạm Công Thiện của tôi, người bạn đã mua về đọc. Và đọc lại cho tôi nghe cả mười hai bài trong cuốn thơ trên điện thoại.


Hai hôm sau, cuốn thơ đến tay tôi qua Federal Express. Tiền gửi còn mắc hơn tiền cuốn thơ mua sale. Ðiều này làm tôi đau lòng.


Tôi đọc Ngày Sinh Của Rắn những ngày sau khi nhận nó. Và tôi biết mình có những nhận xét sai lầm về Phạm Công Thiện - ít ra trong Thơ. Cuốn thơ được in lần đầu tại Sài Gòn năm 1966, và đã tuyệt bản sau một thời gian rất ngắn. Cuốn thơ tôi có đã được tái bản tại Hoa Kỳ với sự đồng ý của tác giả, hai mươi hai năm sau, năm 1988. Bây giờ chắc lại cũng đã mất tích.


Tôi đọc nó với tâm trạng của một người ly hương. Tuy không hẳn là tâm trạng của một Phạm Công Thiện đang là sinh viên du học ngày trước, nhưng tôi vẫn những xúc động bồi hồi. Mười hai bài thơ đủ thể, dài ngắn khác nhau. Các bài thơ đều có những liên hệ mật thiết, kết hợp thành một bài thơ dài. Là cái hay tiềm ẩn của cuốn thơ.


Như tôi đã viết, tôi không biết trích giải. Ðăng lại nguyên văn ở đây để làm làm sống lại những sáng tác đã đi vào quên lãng.


Ngày Sinh Của Rắn


I
tôi đi đông chìm
trời âm u thung lũng khô
nhiều mây chim bay không nổi

tôi đi
dưới kia sụp đổ
núi cấm nổ tôi ra
cửu long ca từ tây tạng

tôi về
tôi hiện
đèn tắt trời gió tắt trăng
chim lạ
kêu tiếng người
hố thẳm ra đời
tôi bay trên biển


II
tôi nằm cho rã chiếu cạp điều
nước chảy lên vùng phố tịch liêu
tôi nhớ một lần cây quế mọc
tôi đứng gọi hương trọn buổi chiều


III
mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
cây khế đồi cao trổ hết bông


IV
trời mưa nữu ước cây mọc
nhớ hương trời mưa ngày tháng
nhớ hương đường hoang mái vắng
nữu ước chỉ còn hương trong giấc ngủ
tim anh tràn máu
con chim đã bay về rừng đạn
anh không còn làm tu sĩ
anh chỉ còn hương trong giấc ngủ
anh chỉ còn máu để đổ vào tim hương
đổ vào tám tách cà phê đen anh uống mỗi đêm
tại greenwich village
tại làng thi sĩ
tại đường khói bay
tại hương trong giấc ngủ
tại chiều ba mươi tết ở việt nam
bây giờ anh xa hương đến mấy đại dương xanh
mấy phương trời cỏ mọc
mấy phương trời hương khóc
hương còn ca hát
hương còn phơi áo giữa phố buồn
hương còn cười
mười năm rồi cây quế vẫn mọc trên đời anh
trên mắt anh
môi anh
trên bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
trên bước chân chiều phố lạ hôm nay
mưa làm tóc anh thơm
mùi cây quế
giữa hồ
mọc giữa hồ quế hương
tóc anh mọc dài
che chở hương
lúc mưa rơi
lúc đông lạnh
lúc chim chiều đi mất
mưa trên phố đêm
trên quán cà phê ý đại lợi
trên chiến tranh
của quê hương
của quế hương
còn anh


V
rạng đông tôi xin thề thức dậy ba giờ sáng
đợi kinh đào chảy ngược
cửa nhỏ đóng kín
những chiếc cầu tuổi dại
mười sáu năm tôi thức trong đời
mười sáu con kinh đào không bao giờ chảy ngược
đứng ngang cầu pont-neuf
nhìn sông seine tôi thấy cửu long
paris đuổi mất mây mộng hoang đường
đập vỡ cơn điên trên triền đá sương
tôi trốn giặc đời
tắm trong hồn hương
trái đu đủ
trong khu vườn xưa
con rắn nhỏ


VI
tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
mặt trời có thai!
sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt


VII
tôi nuốt nọc đen giữa đường guillaume apollinaire
từ xóm saint-germain-des-pres
mọc lên giáo đường hang động
cà phê biến hồn đầu thai
hoá thành một triệu con ma đen
nhảy múa trên núi lửa đầu tôi
tôi mặc đồ xanh
và mang đồng hồ da đen
tôi chứa chấp sáu ngọn lửa điên
trong sáu diêm quẹt còn rớt lại
tôi gọi hương và tôi chết giấc
tôi chạy lên trời làm rắn thâu đêm
máu đổ mưa đen
ồ cây mồng tơi
của thời trẻ dại
tôi gọi thầm
rắn cuộn tròn
tương lai


VIII
mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng
tôi đau trong tiếng gà xơ xác
một sớm bông hồng nở cửa đông


IX
rắn trườn vỡ trứng chim rừng
tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm
khuya buồn tủi nhục môi em
mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ
tiếng ru chín đỏ điện thờ
hoang vu tôi đứng đợi chờ chim kêu
tay còn ôm giữ tình yêu
tôi về phố động những chiều hư vô
đời đi trên những nấm mồ
đau tim em hát cơ hồ khăn tang
phố chiều tôi bước lang thang
nuôi con sông nhỏ mơ màng biển xanh
nửa đêm khói đốt đời anh
yêu em câm lặng khô cành thu đông
lời ca ru cạn dòng sông
trọn đời chạy trốn mống vòng cầu điên
bỏ mình nước chảy đồi tiên
theo con chim dại lạc miền thiên hương
về đâu thương những con đường
lê thê phố cũ nghe buồn hè xưa


X
mùa xuân bay thành khói
tôi ca hát một mình
suốt đời không biết nói
nước chảy tràn con kinh
quá khứ bay lên trời
biến thành cánh chim non
tôi quì hôn lá mới
đau khổ trắng linh hồn
hư không đổ ra khơi
kỷ niệm trôi qua cầu
bãi chiều chưa người tới
tình nhỏ quên từ lâu
xuân bay trắng núi đồi
tôi nằm ngủ mơ chim
bỗng hét lên trong tối
ngồi thức dậy bảy đêm
trời cuối năm gác trọ
đèn tắt suốt đêm dài
con chim mười năm nhỏ
bay về đậu nơi đây
hơi thở giết thời gian
bướm nằm chết thang lầu
tiếng chim ru ngày tháng
máu chảy về sông sâu
suốt đời không biết nói
tôi ngồi thức một mình
đốt thuốc lên nhìn khói
đêm rạng niềm hư linh


XI
tôi lái ô tô buýt giữa thành phố new york
mỗi ngày tôi lái ô tô buýt đi trên những con đường không người những con đường chim chết
những con đường của mỗi ngày
từ riverside drive đến broadway đến đại lộ thứ năm đến washington square
công trường nghệ sĩ tóc bay hương hát
từ greenwich village tôi đi về chinatown
mười lăm xu mỗi chuyến
xa hay gần hay mau hay chậm
tôi vẫn lái cuộc đời tôi trên những con đường quen thuộc không mây
mùa lá hay mùa kèn nửa đêm
dong buồm thổi đến honolulu lặng gió
xa việt nam đà lạt và cà phê tùng cuối năm
tôi cúi đầu trong hầm cà phê figaro nữu ước
chuyến ô tô buýt của đời tôi vẫn chạy hoài
trên những con đường mỹ châu trống rỗng
chuyến xe không về harlem đói lửa
vì mỹ châu trống rỗng trên chuyến ô tô buýt chiều nay tóc bay hương khóc
tôi vẫn lái chuyến xe này đi về đêm tối
đêm tối nữu ước là đêm tối nhà xác
tôi đốt đèn cầy để nhìn xác tôi giữa nhà mồ mỹ châu lạnh lẽo mưa đen
đêm qua tôi thấy máu đổ trong hầm xe điện irt
giữa con đường 42nd hay times square
tôi thấy việt nam ngang tàng cho mặt trời vẫn mọc trên rắn lửa
trên mái ô tô buýt chiều thu


XII
buổi chiều mưa đụng tim
mưa đụng máu
đèn đường đổ xuống nước xanh
xin hét lên rừng u minh đầu đông
tử hình trong ngục
nhốt vào trong ngục
suốt đời trong ngục
khói vóc lửa núi
nhóm nước đầu thu
xin đừng nói
lá chuối
lá me non
xanh nhà thương
ngồi trong thành phố
hoa trắng không còn
con chó đứng nhìn xe lửa mỗi ngày
chùm hoa trắng rụng một hai bông rất nhỏ
bông trắng quá nhỏ
buổi chiều ích kỷ
con đường quá dài
những cây trắc bá chùi đầu lên nghĩa địa
một người họa sĩ thất tình
nhân loại đều thất tình
nói đi thật nhiều
khoai tây
lang thang ngược vòng những vũ trụ
anh nói gì
tôi không nghe
xuống phố và lên phố
chạy hun hút qua hai nghĩa địa
cây trắc bá
chôn vùi con chó nhà ga

Phạm Công Thiện



Khi giới thiệu tác phẩm, tôi biết mình rất là chủ quan, không phương pháp, kém khoa học. Nhưng làm sao đây, khi mình chỉ nói đến những tác phẩm mình thích - Chủ quan là điều khó tránh.


Tôi cũng không biết chắc chắn con rắn của Phạm Công Thiện trong Ngày Sinh Của Rắn tượng trưng cho cái gì. Chỉ có điều đọc xong cuốn thơ, tôi mường tượng ra con rắn trong vườn địa đàng của Adam và Eve ngày xưa - là hiện thân của tục lụy trần gian. Trái táo cám dỗ trong tích xưa là trái đu đủ trong thơ Phạm Công Thiện ngày nay. Tâm trạng một sinh viên từ một Việt Nam chậm tiến đi du học sang Tây Phương, là địa đàng của văn minh máy móc, của tiến bộ tư tưởng, của khai phá nghệ thuật. Ấy vậy mà ... ồ cây mồng tơi, của thời trẻ dại, tôi gọi thầm, rắn cuộn tròn, tương lai... Tôi thương quá những lời thơ đọc mà nghe quê hương bật khóc trong lòng.


Duy chỉ có một điều hơi... bực mình khi đọc cuốn thơ này. Phạm Công Thiện nhắc đến hơi nhiều những địa danh đã đi qua. Vài lần không thấy kỳ, nhưng nhiều quá làm cho tôi có cái cảm giác tác giả đang khoe sự lịch lãm của mình với thái độ đã-đến-đã-làm (been there, done that). Xem nào: tây tạng, nữu ước, greewich village, cầu pont-neuf, sông seine, paris, đường guillaume apollinaire, xóm saint-germain-des-prés, riverside drive, broadway, đại lộ thứ năm, washington square, cà phê figaro, harlem, con đường 42nd, times square, v.v...

Khi đọc sách hay nghe nhạc, tôi ít khi bị chi phối bởi phần hình thức trước nhất. Vậy mà khi đọc Ngày Sinh Của Rắn tôi cứ bị tác giả bắt đọc đi đọc lại hoài tên các địa danh. Nên có những khi bị... cụt hứng. Nếu không biết các địa danh này vì sao nổi tiếng thì chắc cũng đành chịu. Và cũng không hiểu tại sao phải liệt kê như vậy thì bài thơ mới vừa ý tác giả. Có lẽ tại tôi mang mặc cảm không đi đây đi đó nhiều bằng Phạm Công Thiện, nên cứ bị khựng vì tự ti.


Nhưng nếu không bận tâm vì những địa danh trong cuốn thơ, đây là một cuốn thơ tác giả viết bằng những rung động rất thật. Tôi nhớ lúc người bạn đọc đoạn sau đây cho tôi nghe lần đầu trên điện thoại - càng đọc, giọng hắn càng nghẹn ngào - càng nghe, tâm tư tôi càng chùng xuống:
bây giờ anh xa hương đến mấy đại dương xanh
mấy phương trời cỏ mọc
mấy phương trời hương khóc
hương còn ca hát
hương còn phơi áo giữa phố buồn
hương còn cười
mười năm rồi cây quế vẫn mọc trên đời anh
trên mắt anh
môi anh
trên bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
trên bước chân chiều phố lạ hôm nay
mưa làm tóc anh thơm
mùi cây quế
giữa hồ
mọc giữa hồ quế hương
tóc anh mọc dài
che chở hương
lúc mưa rơi
lúc đông lạnh
lúc chim chiều đi mất
mưa trên phố đêm
trên quán cà phê ý đại lợi
trên chiến tranh
của quê hương
của quế hương
còn anh

Với tâm trạng của một kẻ ly hương hơn mười năm, tôi nghe, mà muốn khóc. Ðây là lý do chính tôi thích cuốn thơ này. Và từ đó mỗi lần đọc các bài thơ theo thể tự do, tôi thường hay đọc thành tiếng những đoạn mình thích. Nếu không với bạn bè, thì đọc nghe lấy một mình. Lời thơ lắng đọng. Cảm nhận dâng cao.


Ðời sống văn minh thường làm cho ta thiếu thốn những món ăn cho tinh thần và tâm linh. Tôi nghĩ sự có mặt của thơ-văn-nhạc được bắt đầu bằng những nhu cầu đó. Vươn lên từ áp bức. Thoát ra trong khổ đau. Thăng hoa vì hạnh phúc. Cô đọng giữa tịch liêu. Là quay về cùng thương nhớ. Là cất bước với lãng quên.


Tôi cạn nghĩ: Ngày Sinh Của Rắn, là một.
Thăng hoa hay cô đọng.
Quay về hoặc bước đi.
Luôn là của riêng mình bạn đọc.


tháng 10, 1990



npn





4480




Image


n i ề m- h ã n h- d i ệ n-
n h ỏ- b é

____________________________________________________________________________
hay em là Thị Lộ
đầu đội một thúng rau
lội ngược dòng lịch sử
đi tim một đồng bào

Bắc Phong





Tám năm rồi...

Tám năm rồi tôi sống xa quê nhà và những người đồng hương. Tám năm rồi tôi không được nghe lại tiếng Việt Nam ngoài những giọng hát từ những cuốn băng nhạc. Tám năm rồi tôi không được thấy lại người Việt Nam nào ngoài những hình ảnh trên TV và báo chí. Việt Nam đối với tôi chỉ là những hình ảnh mập mờ hiện về trong tiềm thức. Tám năm về trước tôi chỉ là một trong vô số những đứa trẻ đã mất đi cả cha lẫn mẹ trong cuộc chiến Việt Nam. Người ta bảo những người như tôi là bất hạnh, nhưng tôi không cảm thấy được nỗi bất hạnh đó ra sao cả vì cha mẹ tôi mất lúc tôi còn nhỏ lắm; cho nên tôi không biết thế nào là sự thiếu thốn tình thương của cha mẹ cả. Cuộc sống của tôi là chuỗi ngày dài sống lây lất bên vỉa hè, là những đêm dài co ro trong cơn lạnh vì đói, và là những bài học lừa đảo, gian manh để tìm cái sống. Rồi ngày đó người ta đưa tôi vào một viện mồ côi. Nơi đó tôi và những đứa trẻ cùng hoàn cảnh đã sống bằng sự thương hại của người khác. Nơi đó người ta đã dạy cho tôi biết đọc và biết viết nhưng người ta đã không dạy cho tôi yêu mến ngôn ngữ Việt. Nơi đó người ta dạy tôi nên thương yêu mọi người trong khi tôi chỉ thấy chung quanh mình đầy rẫy những hận thù. Nơi đó người ta dạy tôi nên yêu đời sống trong khi tôi chỉ thấy cái chết chập chùng bao phủ quanh tôi. Tôi thường hay trốn giờ nguyện cầu vì tôi nghĩ nếu Chúa thật tình yêu thương nhân loại và có đủ quyền năng thì Chúa đã làm phép chấm dứt cuộc chiến này. Những tháng năm sống trong cô nhi viện đã giúp cho tôi biết phán đoán sự việc và suy tư theo sự hiểu biết nhỏ bé của mình. Tôi đã đọc báo thấy chiến tranh đã làm cho bao đứa trẻ bị mồ côi chỉ vì một viên đạn vô tình. Và tôi đã thù hằn chiến tranh. Tôi không thù hận bom đạn mà tôi chỉ thù hận những người đã bắn viên đạn đó. Tôi thù hận chiến tranh vì chiến tranh đã cướp mất đi cha mẹ tôi và những hạnh phúc mà tôi chưa bao giờ có. Tôi thù hận chiến tranh vì tôi thấy nó thật vô lý - Không vô lý sao được khi hai người Việt Nam, một từ Sài Gòn một từ Hà Nội, chưa hề gặp nhau cũng tìm đến một khu rừng hẻo lánh để giết nhau bằng súng Mỹ đạn Nga. Tôi đã thù hận chiến tranh cũng như tôi thù hận những người Việt Nam đang chém giết lẫn nhau. Và tôi cũng đã thù hận cả cái kiếp sống đọa đày của một người Việt Nam trong cuộc chiến đó.

Vào khoảng cuối tháng Tư năm 1975, tôi cũng như một số những đứa trẻ khác được đưa ra khỏi Việt Nam bằng phi cơ. Ngày bước lên máy bay tôi nhìn lại nơi thành phố đang chìm trong những tiếng súng mỗi lúc một gần mà tự nhủ thầm rằng mình may mắn. May mắn không phải vì mình sắp được đi xa, mà may mắn là khi biết được tôi sẽ rời xa những gì tôi thù ghét. Rồi tôi được một gia đình người Thụy Sĩ bảo lãnh về làm con nuôi. Khi tôi về sống với họ tôi tự nhủ với lòng rằng tôi sẽ làm sao để xứng đáng lại với những cảm tình họ đã dành cho tôi. Tôi tự bảo rằng mình sẽ cố quên mình là người Việt Nam để hòa mình với họ. Tôi vẫn ngỡ cuộc đời mình sẽ êm xuôi tự do. Tôi được cho đi học như bao đứa trẻ khác, nhưng khi vào lớp những đứa trẻ cùng lớp đã không cho phép tôi quên đi quá khứ của mình. Chúng đã ngạo tôi khi tôi bập bẹ tập nói tiếng của chúng. Tôi bực tức lắm nhưng tôi không biết làm gì hơn khi cha mẹ nuôi tôi cũng là người Thụy Sĩ như chúng. Những giờ ra chơi tôi thường bị bỏ rơi để nhìn bọn chúng chơi đá banh hay rượt bắt. Tôi nhớ lại ở Việt Nam con nít chỉ thích chơi đánh giặc, bắn nhau mà thật buồn cho tuổi trẻ đã phải lớn trong chiến tranh. Cha mẹ nuôi của tôi sợ tôi buồn nên họ đã tìm cách mua cho tôi những sách báo và băng nhạc Việt Nam để tôi đọc đỡ buồn - Ngay chính họ cũng không muốn cho tôi quên nữa cơ mà! Tôi đọc sách báo Việt Nam thấy những bài thơ, câu văn ca ngợi quê hương. Tôi nghe từ những băng nhạc những lời hát thương nhớ quê nhà. Lúc đó là lúc tôi cảm thấy mình thật mâu thuẩn và tự hỏi rằng không biết mình còn muốn làm người Việt Nam nữa hay không, một câu hỏi mà tôi rất sợ câu trả lời.



Tám năm qua rồi...

Cả tuần nay tôi đi với cha mẹ nuôi qua Pháp chơi. Chiều hôm qua, trong lúc tôi đang đi dạo phố một mình thì có một người Pháp đã gọi tôi lại và hỏi địa chỉ của một đêm văn nghệ gì đó của các sinh viên Việt Nam tại Paris tổ chức. Ông ta hỏi tôi có phải là người Việt Nam hay không vì ông ấy muốn nhờ tôi cho ông ấy biết địa điểm tổ chức của đêm văn nghệ đó. Câu hỏi ấy làm cho tôi bối rối và ấp úng không biết trả lời ra sao. Sau khi tôi nói là tôi không biết địa điểm tổ chức thì ông ấy chào tôi và bước đi trong khi tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời cho câu hỏi trước đó. Rồi không hiểu động tác nào đã thúc đẩy tôi, tôi đã có mặt ở tại địa điểm tổ chức vào buổi tối hôm đó sau gần bốn tiếng đồng hồ tìm kiếm. Đêm văn nghệ đó có những tiết mục thật đặc sắc, thật cảm động. Tôi đã thấy những người ca sĩ khóc khi họ đem hết tâm hồn mình gửi gấm qua những lời ca, tiếng nhạc chan chứa tình dân tộc. Tôi đã thấy hình ảnh kiêu hùng của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, hình ảnh của cha tôi, hình ảnh mà đã làm cho tôi hiểu được tại sao cha tôi chết (và cái chết ấy không phải là vô lý). Tôi đã thấy lại hình ảnh của những người mẹ cần cù lam lũ thay chồng nuôi con để chợt biết thế nào là tình mẹ thương con. Tôi đã thấy được niềm tin của những người Việt Nam bất khuất đang chờ mong một ngày trở về xây dựng lại quê hương. Ngỡ ngàng hơn hết là tới khi tôi chợt cảm thấy môi mình mặn bởi những giọt lệ đã tuôn rơi từ bao giờ, tôi chợt biết là tình người vẫn còn đang sống trong tôi - tình người Việt Nam. Nó, với sức mạnh của một dòng sông phá vỡ bờ đê, đã đến trong tôi và làm cho tôi rung động như tôi chưa từng rung động bao giờ. Đêm đó, sau buổi văn nghệ, tôi đã về suy nghĩ và tôi đã tự tìm được câu trả lời cho mỗi sự kiện đã xảy đến cho cuộc đời tôi. Tôi đã biết được là mình không thể nào chối bỏ được màu da của mình cả - Mà dù có thể chối bỏ được đi nữa bây giờ tôi cũng không muốn). Tôi muốn nói tiếng Việt, nghe nhạc Việt, đọc sách Việt, và sống gần người Việt để được thương yêu những gì gọi là Việt Nam. Hai chữ Việt Nam như đã sống trong tôi từ bao giờ rồi (có lẽ nó đã chạy trong giòng máu của tôi kể từ ngày tôi ra đời mà tôi cố không nhìn nhận đó thôi). Và bây giờ, tôi chỉ có một ước vọng thật tầm thường là tôi sẽ được sống trọn kiếp sống của mình, kiếp sống của một người Việt Nam hiền hòa. Thế thôi.



Ngày mai tôi sẽ đi dạo phố. Nếu có một người ngoại quốc nào hỏi tôi từ đâu tới, tôi sẽ không ngần ngại mà trả lời rằng tôi là người Việt Nam. Lúc đó, tôi sẽ hãnh diện lắm.


1984



npn





4644




Image


l á- c ờ- c ủ a- b é- V i ệ t

____________________________________________________________________________
hay em là Thị Lộ
đầu đội một thúng rau
lội ngược dòng lịch sử
đi tim một đồng bào

Bắc Phong





Tôi chăm chú theo dõi đứa bé...


Em bé ấy chỉ chừng 13, 14 tuổi gì đó với đôi mắt sáng và một khuôn mặt thông minh. Tôi bắt đầu chú ý tới em đó khi tôi phát giác ra là em đang chen lấn vào trong đám người đến tham dự buổi chợ tết hôm nay để nhặt những lá cờ rơi trên sàn của khu phố thượng mại này, nơi chợ tết mọi năm vẫn thường được tổ chức.
Những khi tay em đã có đầy những lá cờ thì em đưa lại cho một người đàn bà mà tôi đoán có lẽ là mẹ của em. Rồi em lại cứ tiếp tục công việc ấy. Thỉnh thoảng tôi lại thấy em dừng công việc nhặt cờ và đứng trầm ngâm nhìn một tấm ảnh nào đó trên những tấm bảng được dùng để triển lãm tranh ảnh của QLVNCH trước năm 1975. Rồi em lại tiếp tục.


Sau một hồi lâu tôi không dằn được sự hiếu kỳ và cho đến lúc em bé ấy đứng lại nhìn bức hình một lần nữa thì tôi bước đến hỏi em :
- Em thích bức hình này lắm phải không ?
Em giật mình ngó lên và một hồi sau em trả lời :
- Dạ, con thích tấm hình này lắm.
- Tại sao em lại thích bức hình này ?
- Dạ, tại hình này có ba con trong đó.
- Ba em là lính phải không ?
- Dạ, ba con là lính xe tăng.
Lính xe tăng. Lính của sư đoàn thiết kỵ. lừng lẫy chiến công qua những địa danh oai hùng. Tôi bế em lên và hỏi :
- Em tên gì ?
- Dạ, con tên Trần Hoài Việt.
- Thế Việt chỉ hình ba cho chú coi đi.
Việt đưa tay chỉ vào một người lính sĩ quan đứng chung với một số bạn đồng ngũ với một nụ cười kiêu hãnh. Và em nói :
- Ba con đó.
Em thốt lên ba chữ đó với một niềm kiêu hãnh mà có lẽ chính tôi, một trong những người trong binh nghiệp đã quên mất từ lâu rồi. Tôi thả bé Việt xuống và hỏi tiếp :
- Ba Việt đâu ? Việt dẫn chú lại gặp ba được không ?
- Dạ, ba con chết rồi. Mẹ con nói ba con đi đánh giặc bị chết rồi.
Tôi bàng hoàng với câu trả lời của Việt. Tôi hỏi tiếp :
- Thế Việt dẫn chú lại gặp mẹ Việt được không ?
Việt gật đầu và nắm tay tôi dẫn về phía một người đàn bà đang ngồi trước một chiếc bàn nhỏ xếp lại những lá cờ mà Việt đã nhặt được. Việt lay nhẹ vai người đàn bà đó và nói :
- Mẹ ơi, chú này muốn gặp mẹ.
Tôi chợt mĩm cười với lời giới thiệu ngộ nghĩnh của Việt. Người đàn bà, không, người thiếu phụ, ngước lên nhìn tôi mĩm cười gật đầu chào và nói :
- Tôi là mẹ của bé Việt. Chắc là Việt làm phiền ông phải không ?
Tôi lắc đầu trả lời :
- Thưa không. Tôi mới làm quen với Việc cách đây không lâu. Tôi muốn được hân hạnh tiếp chuyện với bà. Tôi tên là Trường.
- Tôi tên là Trân. Xin ông đừng gọi tôi là bà, có vẻ xa lạ quá. Cho phép tôi gọi anh là anh Trường nhé.
- Vâng, xin bà... à không, xin chị cứ tự nhiên cho.
Tôi đưa mắt nhìn bé Việt và nói tiếp :
- Tôi muốn gặp chị để được nói với chị đôi lời cảm phục chân thành của mình.
- Cảm phục tôi ?
- Vâng, tôi rất lấy làm khâm phục khi thấy chị đã dạy được cho một em bé biết tôn trọng lá cờ Việt Nam. Tôi xin được hỏi là làm sao chị dạy cho Việt được như thế.
- Tôi nghĩ là tốt hơn hết anh nên hỏi bé Việt câu này thì đúng hơn.
Rồi quay sang bé Việt, Trân nói tiếp :
- Việt con trả lời cho chú Trường tại sao con thích lá cờ Việt nam đi con.
Bé Việt nghe lời mẹ ngó qua tôi và nói :
- Dạ, tại lúc ba con chết mẹ con nói người ta đã phủ lá cờ này lên người ba con. Mẹ con nói nếu con thương ba thì con phải biết thương lá cờ này.
Trong khi tôi đang ngỡ ngàng vì câu trả lời chững chạc và chân thành đó, mẹ Việt lại tiếp lời :
- Tôi đã suy nghĩ thật nhiều về cái chết của anh Duy, chồng tôi. Tôi nghĩ đến một ngày nào đó, nếu có ai hỏi cha Việt ở đâu hoặc tại sao cha Việt chết thì Việt biết câu trả lời và thấy tự hào về câu trả lời đó.
Tôi bỗng thấy kính trọng người thiếu phụ, người mẹ hiền đang ngồi trước mặt tôi. Lúc đó bé Việt lại đưa xấp cờ giấy mà em vừa nhặt cho mẹ và nói :
- Mẹ xếp dùm con nhé. Con đi nhặt nữa nhé mẹ.
Tôi nắm lấy tay Việt và nói với Trân :
- Xin phép chị tôi cùng đi với Việt để xem coi mình có làm bằng Việt không.
Mẹ Việt gật đầu trong khi Việt nắm lấy tay tôi kéo đi.


Chúng tôi đang thi đua xem coi ai nhặt được nhiều lá cờ hơn thì có một bàn tay lay nhẹ vai tôi. Tôi quay lại thì thấy Doãn, thằng bạn trong quân ngũ và cũng là bạn học khi xưa, hỏi tôi :
- Mày làm gì đó Trường ?
- Tao đang nhặt những lá cờ này.
- Ừ, tao cũng đang bực mình vì những lá cờ này. Mày thấy mà làm trước tao là hay đó.
Tôi chỉ bé Việt và nói :
- Tao có hay ho hơn mày cái gì đâu. Bé Việt là người đầu tiên đó. Làm tao mắc cỡ quá. Mình già cả đầu rồi mà không ý thức được gì cả, thật là đáng trách.
Nhìn đôi mắt Doãn đang ngạc nhiên nhìn bé Việt trong sự thắc mắc, tôi bèn đem câu chuyện vừa rồi kể lại cho Doãn. Doãn nghe xong quay lại nhìn phía mẹ Việt một hồi lâu rồi nói :
- Được rồi. Mày cứ tiếp tục đi, tao sẽ có giải pháp.
Rồi Doãn bước đi với một nét mặt cương quyết mà tôi chưa bao giờ thấy từ ngày tôi và nó cùng bước xuống con tàu ra khơi.


Mười phút sau...
Trong khi tôi và bé Việt vẫn còn đang nhặt những lá cờ thì tôi chợt nghe giọng nói của Doãn phát ra từ những cái loa được đặt chung quanh nơi này :
- Kính thưa quí vị, tôi xin được mạn phép tạm ngưng chương trình văn nghệ mừng xuân trong giây phút để được có đôi lời thưa cùng quí vị. Nếu quí vị nhìn về phía tay tôi chỉ thì quí vị sẽ thấy có một em bé đang nhặt những lá cờ. Thưa quí vị, em bé ấy tên là Việt và em nhặt những lá cờ đó vì cha em là một cựu chiến sĩ của QLVNCH đã bỏ mình cho lá cờ này. Cho nên em rất kính trọng lá cờ này mà không nỡ để cho nó nằm rải rác trên sân hoặc bị dẫm lên. Kính thưa quí vị, hẳn quí vị còn nhớ là ở phần đầu chương trình chúng ta đều đã mặc niệm trước lá cờ để tỏ lòng thương tiếc các chiến sĩ cũng như các đồng bào đã bỏ mình cho hai chữ tự do. Để rồi ngay sau đó ta lại vứt bỏ và thậm chí còn dẫm lên trên những lá cờ đó. Thật là mâu thuẩn phải không quí vị. Riêng tôi, với tư cách của một cựu quân nhân, chỉ biết nói lên đây sự hổ thẹn về những sơ ý của mình. Sau hết là tôi xin được tỏ lời khâm phục bé Việt và nhất là chị Trân, mẹ của em đã dạy dỗ nên một người con mà chúng ta ai ai đều có thể hãnh diện cho nhau.
Nói xong Doãn đứng ngay người và đưa tay chào Trân theo lối quân đội.
Rồi Doãn bước xuống từ sân khấu và bắt đầu nhặt những lá cờ gần nhất. Mọi người yên lặng trong giây phút rồi không ai bảo ai đều ngừng lại mọi hoạt động và cùng nhau nhặt lên những lá cờ chung quanh mình. Không biết ai đó bỗng xướng lên hát bài "Việt Nam, Việt Nam". Rồi mọi người cùng nhau đều hát lên. Thú thật, cả đời tôi đã hát bài ca đó không biết bao nhiêu lần rồi mà chưa lần nào tôi hát một cách say sưa như thế cả. Và tôi đưa mắt nhìn chung quanh thì tôi đã lấy làm cảm động khi thấy có những người già, có những thanh niên đã không cầm được giòng lệ nọng Nhưng dù đang cảm động, tay họ vẫn nhặt những lá cờ và họ vẫn hát, hát say sưa, hát nhiệt thành. Chưa bao giờ tôi thấy người Việt Nam gần nhau như thế. Tất cả chỉ vì một hành động nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa của một đứa bé. Đưa mắt nhìn lên bàn thờ tổ quốc nơi sân khấu, tôi thấy mình đang bước về trên những con đường quê hương. Và tôi thấy một niềm hãnh diện đang lên làm tôi nghẹn ngào. Và mắt tôi chợt ướt. Và môi tôi chợt mặn.


Rồi buổi chợ tết đã chấm dứt...
Sau khi dọn dẹp tất cả và những lá cờ còn sót đã được nhặt hết, tôi bước ra bãi đậu xe. Vừa đi tôi vừa nghĩ đến câu chuyện mà tôi và bé Việt đang dở dang trước khi Doãn gặp tôi. Lúc đó bé Việt hỏi tôi :
- Mặc niệm là gì vậy chú ?
- Khi ta muốn tỏ lòng thương nhớ tới một người nào đã chết rồi thì thường yên lặng để nghĩ đến những người đó và cầu nguyện cho họ. Việt hiểu không ?
- Dạ hiểu. Thế con mặc niệm cho ba con được không chú ?
- Được chứ Việt.
- Tại sao mọi khi mặc niệm người ta thường ngó về lá cờ vậy chú ?
- Là bởi vì lá cờ Việt Nam tượng trưng cho hai chữ tự do. Bởi vì nhiều người đã chết vì hai chữ đó Việt biết không. Những đồng bào vượt biển vì muốn được tự do, những người ngày xưa đã chiến đấu để bảo vệ tự do cho mọi người như ba của Việt và bạn bè của chú. Cho nên người ta mới nhìn về hướng lá cờ để tỏ lòng biết ơn tất cả qua lá cờ đó Việt.
- Thế sao người ta kính trọng lá cờ mà người ta còn vất nó đi vậy chú ? Có người còn dẫm lên nữa vậy chú ?
Tôi đang ấp úng trước câu hỏi thì Doãn gọi tôi. Câu chuyện được dừng lại ngay lúc đó. Và giờ đây tôi nghĩ lại câu hỏi cuối cùng của Việt mà lòng thật phân vân vì thật ra, chính tôi cũng không biết tại sao nữa.



1984



npn





4742




Image


t ự- t ì n h- n g ắ n- 1

____________________________________________________________________________




Chàng ngồi xuống bên nàng trên ghềnh đá. Mắt nàng vẫn nhìn vào bọt sóng đang vỗ vào những tảng đá lớn chung quanh hai người. Chàng hỏi:
- Em buồn anh?
- Không?
- Sao em không nói gì?
- Không có gì cần thiết để nói.
- Những gì anh nói cùng em, em nghĩ sao?
- Chấp nhận.
- Dù em không thích.
- Chấp nhận không bao giờ là niềm vui cả.


Chàng nhặt một vỏ sò lên tay. Mắt nàng vẫn nhìn những bọt sóng.
- Anh xin lỗi những điều anh nói đã làm em buồn.
- Em không buồn vì những điều anh nói.
- Vậy tại sao em buồn.
- Vì anh đã nói những điều không cần phải nói. Với em.
- Anh không bao giờ muốn làm em buồn.
- Em tin điều đó.
- Nhưng anh đã làm em khóc.
- Mỗi nỗi buồn có hạnh phúc riêng của nó.
- Anh muốn chia sẻ cùng em.
- Anh đang.
- Là sao?
- Anh đang ngồi bên em bằng một mối quan tâm.


Chàng lặng thinh. Rất lâu. Đọc được sự bối rối của chàng, nàng cảm động. Đặt tay mình lên cánh tay chàng. Mắt nàng rời những bọt sóng và dừng lại trong mắt chàng:
- Anh yên tâm. Em đang vui.
- Anh không tin.
- Anh phải tin.
- Vì sao anh phải tin, khi mắt em còn ướt.
- Vì anh yêu em. Vì em biết anh yêu em.
- Anh đã và vẫn yêu em.
- Đó là hạnh phúc của em. Tuyệt đối. Nó quan trọng hơn những niềm đau của mỗi chúng ta tạo cho nhau. Em biết anh yêu em. Là đủ.
- Nhưng em vẫn không thấy đủ. Trong thực tế. Trong cuộc sống.
- Tình yêu tạo nên sự cần nhau. Nhưng em nghĩ em cần tình yêu anh hơn cả em cần có anh, hơn cả những cái cần thiết mà tình yêu tạo ra nữa.
- Em có tình yêu anh.
- Nên tuy khổ đau, em vẫn hạnh phúc.
- Cám ơn em.
- Sao lại cám ơn em?
- Cám ơn em đã yêu anh.


Nàng chớp mắt. Nụ cười chớm trên môi. Nàng nhìn theo một cánh chim bay ngang.
- Anh lúc nào cũng vậy.
- Là sao?
- Em nói cùng anh bao nhiêu điều. Anh chỉ cần nói một câu.
- Anh vốn vụng về.
- Điều đó đã làm em cảm động.
- Anh còn một điều nữa.
- Gì?
- Anh cám ơn sự thật. Sự thật không phũ phàng như anh nghĩ.
- Là sao?
- Sự thật là có biển, có mây, có sóng, có gió, có anh, và có em, có tình yêu. Chúng ta có thật. Và tình yêu có thật.
- Em hiểu. Cám ơn anh. Không, cám ơn tình yêu anh.


Chàng đặt tay mình vào tay nàng. Nắm chặt. Vỏ sò giữa hai bàn tay làm họ cùng đau. Tình yêu mĩm cười. Hạnh phúc của tình yêu không chỉ là ấm êm. Mà là cùng đau một niềm đau. Và có nhau để cùng chia niềm đau đó.


Họ dìu nhau đứng dậy. Và cùng nhau bước về.


Ngoài khơi, con nắng đã lên cao.



npn





4912




Image


v ề- s á n g- t ạ o

____________________________________________________________________________




Vào những tháng ngày cuối đời, nhà thơ Phùng Quán đã cho in tại hải ngoại một tác phẩm ngắn - Trăng Hoàng Cung. Trong đó, ông viết:

- Làm gì có chừng mực thơ!
- Làm gì có chừng mực mưa!
- Làm gì có chừng mực yêu!
- Làm gì có chừng mực thiên tài!
- Làm gì có chừng mực khổ đau!


Sáng tạo, vả chăng, không chỉ là lao vào tận cùng vực thẳm. Mà là sống. Điều quan trọng không là sống ở mức độ nào, đầy vơi nào, rộng hẹp nào. Mà là sống thật trọn vẹn điều mình muốn sống. Cần sống. Sẽ sống. Phải sống.

Và hạnh phúc, vả chăng, là biết rằng mình đã sống được như thế. Thật trọn vẹn. Ít ra, với những gì mình ghi chép xuống. Đầy, mà không tràn. Vừa, mà không vơi.



npn



Image


5047




Image


t ả n- m ạ n- v ề
-------------t h ơ
- T Ự -D O

____________________________________________________________________________

người tài xế mặc áo đen
chiếc xe hàng vắng
mưa xứ nắng buồn dậy muộn
tình nhân thở dĩ vãng vuốt ve
không đa đa siêu thực
thẳng thắn
khởi từ ca dao sang tự do

Thanh Tâm Tuyền




1.
cô đọng.
cô đọng.
cô đọng.



2.
hãy đọc lớn cho chính mình một bài thơ tự do. ngừng ở những dấu phết, dấu chấm (lâu hơn), và lúc câu thơ xuống hàng (gẫy gọn). đó là lối dễ đọc thơ tự do nhất. vì thơ sẽ dễ cảm hơn nếu ta nghe được nó.

khi đọc thơ-có-vần trong im lặng, có thể nghe bài thơ trong tư tưởng. vì vần thơ.

thơ tự do khó nghe trong im lặng. nghe được thơ – là chìa khóa cho những người mới đi vào cõi thơ, nhất là thơ tự do, sáng tác hay thưởng thức.

sẽ thấy, có khi ta không hiểu hết ý nghĩa hay cách dùng từ của tác giả, nhưng khi ta thật sự nghe bài thơ thì ta sẽ cảm bài thơ hơn.

từ cảm nhận đi đến tự hiểu là lối vào của cõi thơ tự do.



3.
cõi xúc cảm của thơ tự do không là những tiếng sóng đều đặn vỗ vào bờ, những âm ba vang lên nhịp nhàng giữa đêm ngồi im lắng nghe.

cõi rung động của thơ tự do là tiếng một nhánh cây thình lình bị đạp vỡ trong thinh lặng tuyệt đối của rừng sâu.

không là tiếng chim hót chào buổi sáng, mà là tiếng thét của loài quyện điểu trước khi lao mình vào bụi gai. những tiếng thét nghe ra cùng lúc ấn tượng thành hình trong tư tưởng.

vỡ òa.
nghiệt ngã.
khốc liệt.
tàn nhẫn.
bàng hoàng.
chấn động.



4.
cái đẹp của thơ tự do không chỉ nằm vào sự đến của rung động. tuyệt vời hơn, cái ngây ngất của nó nằm trong cái cảm giác còn ở lại khi những chấn động đầu tiên đã qua.

hãy ví như vầy –
thơ văn có nhiều loại, như rượu. nhiều cách uống.
nhiều hình dạng của ly cốc - để rót vào, để chứa đựng, để chuyên chở.
thơ tự do không phải là loại rượu ta uống từng nhấp nhỏ, hay cầm chai tu ừng ực. nó là một loại tequila cực mạnh. rót ra từng ly, uống. mỗi ly nốc vào cho cạn trong một ngụm, với muối, chanh và con trùng –
ôi, những con-sâu-thơ-của-rượu!...
ngay sau đó –
tai lùng bùng,
tim đập mạnh,
mặt nóng ran,
phổi khó thở.
sau đó nữa –
nhắm mắt lại
nghe cái ấm lan dần ra
thân thể,
nếm vị cay và ngọt còn đọng lại trên môi,
hôn cảm giác tê tê trên đầu lưỡi...
choáng váng.
đê mê.
mỗi một ly uống vào là một cơn say trọn vẹn. tuyệt đối. nhưng không bao giờ là say khướt đến độ không còn biết mình mang cảm giác gì ở những ly sau.



5.
nếu đã nghe tiếng thân cây vỡ trong rừng sâu.

nếu đã cay (và say) (và ngây ngất) được với một cốc tequila.

nếu thấy được tia chớp lóe lên trên nền trời mây đen.

sau đó là tiếng sấm chấn động vạn vật.
và đừng bao giờ hỏi
cái gì ở lại: tia chớp hay mây đen? tiếng sấm hay chấn động?
mà nhập tâm được huyền diệu tuyệt đối
của quyền năng tạo hóa,
của uy lực thiên nhiên,
của thiên đường sáng tạo,
của điạ ngục duy cảm.

thì bài-thơ-tự-do-để-tản-mạn-về-thơ-tự-do này là sự-chết-đi-ngay-khi-vừa-ra-đời

của nó.



npn





5214 top -
s á n g t ạ o , v à d ò n g s ô n g . . .
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7
_______________________________________________
Bóng Xế - thơ - Lý Quang Chính _______________________________________________

Image

Mệt rồi gót mỏi rong chơi
Sơn cùng thủy tận đã lời nghe ra
Hoàng hôn trỗi nhịp phôi pha
Phím mòn ai nhấn âm ba lạnh mình

xem tiếp...

_______________________________________________
Tiếng Vọng Của Biển - văn - Lư Ngọc Dung _______________________________________________

Image

Tôi xa biển, có lẻ là vĩnh viễn. Nhưng tiếng sóng biển hay tiếng nói thật sự của cuộc đời sẽ luôn luôn tồn tại trong chính tôi. Ðó là thứ tiếng nói chân thật, giản đơn của biển cả mênh mông. Tiếng của Mẹ. Tiếng vọng của biển...

xem tiếp...

_______________________________________________
Thành Phố Mưa Bay - nhạc - Thúc Sinh _______________________________________________

Image

có những chiều thành phố mưa bay
thương em gầy giọng hát liên dài
nghe hơi thở chạnh lòng khơi niềm nhớ
môi nhăn mắt đỏ mòn mỏi theo đợi chờ...

xem tiếp...

_______________________________________________
The Second Chair - ảnh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image


xem tiếp...