THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image


c h ợ .q u ậ n .Ô .M Ô N
...........n g à y .x ư a
__________________________________________________________________________


Chợ quận Ô Môn nằm vào phía Tây Bắc tỉnh lỵ Cần Thơ khoảng 20 cây số. Khu chợ quận chiếm một khu hình chữ nhựt.

Phía Nam chợ quận là khúc sông gần vàm rạch Cái Tắc (Ông Thục). Từ Cần Thơ lên, vào chợ quận phải qua một cây cầu sườn sắt lót đà ngang bằng cây dầu là loại cây thông dụng thời đó (bởi đà “sao” nặng và mắc tiền). Hai nhịp nối nhau thành chỏm cao như cái nón úp. Tên gọi là cầu Ô Môn, nhưng thật sự cầu này bắt ngang rạch Cái Tắc (Ông Thục).

Phía Đông là một khúc thẳng của sông Ô Môn, nằm dài mặt sau chợ quận. Bờ sông được xây bằng đá (mà chúng tôi vẫn gọi là bực thạch) từ đầu cầu sắt Ô Môn dọc lên đến khu nhà của ông Hương Cả Bùi Quang Vạn. Ông bà có nhiều con, nhưng tôi chỉ nhớ tên bốn người con trai họ Bùi Quang (Đài, Các, Kinh, Dinh). Mặt trước chợ quận nằm bên phía Đông bờ lộ cái Cần Thơ-Long Xuyên, đối diện với nhà việc làng Thới Thạnh.

Phía Tây là đài nước (hồi đó chúng tôi gọi là sa-tô-đô = château d’eau). Sau đài nước là lò heo, xóm quê chừng 10 nhà rồi tới đồng ruộng.
Phía Bắc cũng lấy một cây cầu sắt cao làm chuẩn. Cầu này lớn hơn cầu sắt phía Nam. Nó bắt ngang khúc sông Ô Môn trên đường đi Long Xuyên. Tuy nhiên, dân chợ quận thời bấy giờ quen gọi cầu này là cầu Rạch Phê.

Bây giờ, từ xóm Ngã Ba Thới An, tôi lên cầu, đi qua chợ. Ngay đầu cầu bên trái là con đường đất chạy dài, dọc theo bờ rạch. Đầu tiên trên đường này, cách đầu cầu chừng năm thước, ngay sau hè chùa Ông, một dảy nhà gạch hai gian quay mặt ra bờ sông. Đấy là lớp ba A của trường tiểu học Ô Môn. Sở dĩ trường tiểu học có hai lớp ba A và B, vì học trò lớp ba đông gấp đôi học trò lớp tư. Ngoài trường quận, còn nhiều trường làng cũng có lớp ba. Mỗi năm thi tuyển lên lớp nhì một năm (Cours Moyen 1ère Année), trường chỉ lấy có 48, 50 trò một lớp cho cả quận. Học trò lớp ba thi rớt, ở lại học thêm, để năm sau thi keo nhì. Thi lần thứ hai mà rớt nữa, thì học trò đành xếp cặp ở nhà luôn. Vì thi tuyển lên lớp nhì khó như vậy, nên trường có hai lớp ba để chứa những anh hùng thất thế và thiền quyên lỡ vận của trường quận bị hạ đài kỳ thi tuyển lên lớp nhì I năm khóa trước. Cô bảy Sang dạy lớp ba B ở bên trường chánh gồm các học trò cưng từ lớp tư chuyển lên. Thầy ba Nhơn dạy lớp ba A bên này phần đông là những người ngồi học lại và mấy đứa cứng đầu khó dạy vừa mãn năm học lớp tư. Tôi là học trò trai rắn mắt, hay phá chọc xóm làng, nên được cô ba Hạnh (con gái thứ ba của thầy ba Nhơn) đưa qua lớp ba A để nhờ thầy răn trị bớt.

Khỏi lớp Ba A này chừng mười bước, gặp con rạch nhỏ, có cầu ván bắt ngang. Rạch nầy chạy dài song song với lộ Cần Thơ Long Xuyên từ sau dinh quận lên tận sau hè nhà việc ngang chợ quận. Qua khỏi cầu, chừng 50 thước là nhà hơi điện và đài nước cao ngất, thiết lập xong vào khoảng năm 1940. Tôi có theo mấy anh lớn leo thang thử một lần lên tới trên nóc, rồi bị rầy và bị cấm không được leo, mà tôi cũng không dám leo lần thứ hai. Hồi đó, dọc mấy đường chánh chợ quận đều có cột đèn điện và cứ mỗi ngã ba cách nhau chừng 200, 300 thước thì có vòi nước máy (fontaine). Đi dọc đường đất, sâu vào khoảng 100 thước thì tới công xi heo (cũng gọi là lò heo sau này đổi thành lò sát sanh) của chợ quận; sau đó khoảng 50 thước nữa thì đến nhà sàn của quan thầy thuốc Tô Phương Ký. Tôi còn nhớ tướng mạo “quan thầy thuốc” Tô Phương Ký; sau này tôi biết thêm ông vốn là médecin indochinois. Ông bà rất hiền, có nhiều con nhưng tôi chỉ nhớ 3 người trai: Trung, Hiếu và Nghĩa. Cả nhà đều giỏi về âm nhạc. Anh Tô Phương Hiếu, đồng thời với Lưu Hữu Phước, có sáng tác bản nhạc (Hối Ngộ thì phải?) khá thạnh hành thời đó. Riêng anh Tô Phương Nghĩa thì chuyên về chiêng trống, được biểu diễn ngoạn mục một lần chung với ban nhạc đoàn S.E.T.(Section d’Excursion et de Tourisme) từ trường trung học Cần Thơ lên.

Trở ra lộ cái, qua khỏi con đường đất, bắt đầu từ bên trái là chùa Ông. Gọi là chùa Ông, vì là chùa Tàu thờ Quan Công và ông Bổn. (Sau này lớn lên biết thêm, ông Bổn là Trịnh Hòe nhà Minh tước phong là Bổn Đầu Công? Đúng hay sai, ai biết xin chỉ dẫn dùm. Đa tạ). Trong hiên chùa có con ngựa lớn như thiệt, sơn màu hung hung đỏ. Người ta chuyền miệng với nhau đấy là con xích thố của Quan Vân Trường, thỉnh thoảng có đêm thanh vắng họ nghe nó chạy dọc bờ sông nhưng không ai thấy. Chùa thường vắng người. Chỉ thấy một chú chệt (khách trú) cư ngụ ở dảy nhà sau, chuyên quây cà rem, đem bán dạo cho con nít từ chợ sang các xóm.

Kế đến, bên trái chùa Ông là dinh quan chủ quận (danh từ thời xưa 1940). Phần trước dinh, cạnh bên lộ là nơi làm việc (sau này gọi là quận đường), phần sau là tư dinh. Trước dinh quận là con đường tráng nhựa thô (asphalte) chạy thẳng xuống mé sông, có cầu tàu sườn sắt lót ván. Công dụng của cây cầu này phần lớn là nơi hóng mát vào buỗi chiều của những ai dám léo hánh nhàn du mà không ngán chú lính mã tà gác trước dinh. Tàu máy, đò đạp đều ghé bến này để rước khách đi Cần Thơ, Sa Đéc. Đôi khi, tàu máy của chủ quận cũng về đậu ở đây. Năm 1945, dinh quận bị bỏ trống khi ông chủ quận bị dời đi. Bộ đội kháng chiến do chú Từ Càng (em ruột thầy Từ Tích) vốn là trung vệ (demi-centre trong hội bóng tròn của quận) đứng ra chỉ huy, đắp đồn phòng ngự trước cửa dinh quận. Bờ đất có lổ châu mai chong hướng súng xuống cầu tàu. Có hôm tập trận (vì chưa tản cư) thì tôi thấy vài người có súng ngồi trong lổ châu mai và nhiều người thủ tầm vông vạc nhọn núp bên ngoài. Đến khi tản cư, thì không biết sự việc xảy ra như thế nào. Đến khi hồi cư, lần hồi mấy bạn bè của cậu tôi nói chuyện cũ với nhau, tôi nghe lóm được; thì biết rằng hôm Tây đổ bộ một tàu sắt đầy lính lên cầu, thì bộ đội của chú Từ Càng sẳn sàng sau bờ phòng ngự nhưng không dám bắn, vì lính Tây vừa đông hơn mà trang bị súng ống cũng dữ dằn hơn. Đến khi đội Tây ra lịnh cho lính tiến vào dinh quận thì chú Từ Càng ra lịnh rút qua mương lạch sau dinh mà lui về Thới Lai. Rốt cuộc, phòng thủ thì hăm hở, nhưng Tây vào tái chiếm dinh quận, chợ Ô Môn không nghe một tiếng súng. Ai còn sống và có chứng kiến vụ này xin nói thêm cho biết, phần tôi năm đó còn nhỏ (13 tuổi) không hề dự trận, chỉ nghe nói lại mà thôi! Dinh quận biến thành đồn lính Tây một thời gian khá dài cho đến khi đồng bào hồi cư đông đảo. Trung úy Học người gốc xóm Tầm Vu có một thời gian ngắn làm trưởng đồn này kiêm luôn quyền chủ quận. Sau đó trả về cho dân sự.

Cạnh dinh quận là một bãi đất trống luôn được quét dọn sạch sẽ (gần dinh quận mà, để rác rến tùm lum coi sao được!). Kế đến là nhà thờ Tin Lành có lầu chuông cao nghệu. Gia đình ông mục sư ở ngôi nhà sau nhà thờ. Ông có nhiều con. Tôi chỉ biết hai người: người trai thứ năm mà tôi quen gọi là anh Năm Nhà Giảng, và người gái thứ sáu tên cũng là Sáu học cùng lớp với em tôi tại trường tiểu học cho đến lớp nhì hai năm (Cours Moyen 2èm Année). Kế đến là một xưởng duy nhứt chuyên sửa xe đò Cần Thơ – Ô Môn. Tiếp cận là một dảy phố xoay vách ra đường mặt tiền quay hướng Bắc trong đó có gia đình ông Hội Đồng Nghiêm cư ngụ. Một cô con gái của ông là chị mười Phạm học chung lớp với tôi từ lớp nhì một năm.

Sau dảy phố này là nhà việc làng Thới Thạnh (tức văn phòng hội đồng xả sau này). Nhà việc nền đúc cao bằng đá xanh, tường gạch vôi vàng mái lợp ngói đỏ. Có một thời gian ngắn năm 1940, nhà nước cho học trò từ lớp ba trở xuống mỗi sáng được thầy cô dẫn từ trường qua chợ quận, vào nhà việc uống một ly sữa đậu nành, rồi xếp hàng thứ tự ra về trở vào lớp học. Bên cạnh nhà việc có một dảy nhà gạch nhỏ ba căn. Căn đầu là nhà kho chứa vật dụng linh tinh của làng Thới Thạnh. Căn thứ hai là nhà giam tội phạm chờ xe gởi tù từ quận xuống tỉnh. Căn thứ ba là nhà dành cho người cu-li (tạp dịch) của nhà việc.
Cạnh hông phía Bắc của nhà việc là sân đánh tennis (quần vợt) dành cho giới thể thao trưởng giả phần đông là công chức và những nhà giàu tai mắt trong quận. Sau sân tennis là đồng trống không thấy trồng trọt mà cũng không thấy xây cất gì lên đó.

Trở lại đầu cầu sắt phía Nam, bên phải là một con đường lót đá tráng nhựa chạy dọc bờ rạch Cái tắc chừng 50 thước. Con đường này cũng nằm dọc vách đầu xông của hai dảy phố năm căn cất đâu lưng nhau, hai dảy bếp chỉ cách nhau một khoảng hẻm nhỏ chừng ba thước.

Dảy phố năm căn quay mặt ra lộ, đối diện chùa Ông chỉ có một căn do thầy giáo Hữu ở, còn lại toàn người Tầu. Năm căn quay mặt ra bờ sông Ô Môn dành trọn cho công chức: ông đốc học Đoàn Hưng Tường (khi chưa cất nhà sàn ngang trường), thầy nhứt Trần Văn Sửu, thầy ký Trạch, thầy ký Mười v.v...

Qua khỏi con lộ trước dinh quận, là dảy phố trệt do toàn người Tàu chiếm hết. Đặc biệt trước mỗi nhà họ đều phơi đủ thứ chen nhau: áo quần, cải trắng nguyên cây ướp muối, vịt nguyên con ép dẹp ướp nước tương, thịt heo xỏ xâu như xá xiếu v.v... Dảy phố này chừng hai mươi căn gần tới nhà việc mới dứt.

Nhà lồng Chợ Quận thì mỗi ngày rộn rịp buôn bán từ sáng đến xế chiều: gồm các sạp vải, các sạp bán thức ăn, và hai thớt thịt heo. Mấy năm sau 1940, thịt bò cũng bắt đầu được bày bán, dù không mấy ai mua vì dân làng còn kiêng kỵ, coi thịt bò như thịt trâu phải cử không ăn, vì đạo Phật xếp thịt trâu vào tam yểm (trâu, chó, nhạn). Vài tháng thì có xe hát bóng hay mấy ghe lớn của gánh hát bội hoặc cải lương ghé lại. Vì không ưa hát bội, tôi không còn nhớ được tên một gánh hát nào! Nhưng cải lương thì có các gánh: Tân Thinh (Tôn Tẩn hạ san, Hỗn Nguyên trận, Bình Linh hội), Chấn Hưng (Bích Liên vương nữ), Quốc Gia Kịch Đoàn (Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc, Hoàng tử Cảnh như tây) v.v... Hai ba năm một lần, gánh Dù Kê ghé một lần hát toàn tiếng Miên vì phần đông khán giả là người Miên từ xóm Thôm Rôm và Sóc Ông Chăng tựu xem thật đông. Thỉnh thoảng có người giải thích tuồng tích bằng tiếng Việt (!) và tiếng Pháp (!) cho khán giả không nghe được tiếng Miên!!!.
Khi có gánh hát, thì nhà lồng chợ thành rạp hát. Chung quanh che kín bằng vải bố dầy, chừa cửa bán vé cho khán giả vào xem. Chiều chiều có xe chạy từ chợ quận ra tới vàm Thới An để rao và rải quảng cáo. Chừng một giờ đồng hồ thì xe trở về tới rạp. Bấy giờ, trống chầu bát đầu nổi lên đủ hồi đủ nhịp, thôi thúc bà con xa gần sắp xếp việc nhà, vào chợ sớm coi hát. Khi bắt đầu bán vé, thì ngưng trống ngoài sân, dời trống vào trong rạp giao lại cho ban nhạc. Bọn con nít chúng tôi tựu gần cửa rạp, thì có ai quen đi coi hát nắm tay nhờ dẫn vào, hay chờ khoảng 10 giờ khuya, khi rạp “thả giàn” thì chen nhau vào xem đoạn chót của tuồng dù hát bóng (ciné), hát bội, cải lương hay Dù Kê.

Khoảng sân trống giữa nhà việc và mặt trước nhà lồng chợ là bến xe đò Ô Môn - Cần Thơ mỗi sáng hai chuyến; Ô Môn Long Xuyên mỗi sáng một chuyến. Xe đò Nam Vang - Châu Đốc - Cần Thơ xuôi ngược hai chiều cũng đều ghé lại bến này.
Khoảng sân trống giữa mặt sau nhà lồng chợ và bờ sông là khu chợ quận lộ thiên, gần bờ sông là hàng tôm cá các loại lớn nhỏ đen trắng: lớn thì cá lóc cá trê; vừa vừa thì cá linh, cá thiểu, cá sặc, cá rô; nhỏ thì cá cơm cá ròng ròng v.v... Nhắc đến cá ròng ròng khiến tôi lại nhớ ông quận Xuân có lần ra lịnh khiến dân Ô Môn nhớ lâu dài: một hôm lính mã tà (vì lưng họ đeo matraque, thời đó không kêu là cảnh sát) đi dọc chợ cá, gom hết mấy thùng cá ròng ròng, bắt đổ hết xuống sông. Mấy bà bán cá từ trong ruộng ra, bị mã tà bắt đổ cá kêu trời liền miệng; vì bán được cá mới có tiền mua gạo và những thức cần dùng khác mang về. Bây giờ cá bị đổ xuống sông thì mất hết vốn liếng lấy gì mua sắm. Nhưng sau đó lính mã tà lại dẫn mấy bà vào nhà việc làng Thới Thạnh bên kia đường lộ Cần Thơ Long Xuyên, chờ một chút thì có “thầy ký” nhà việc ra trả tiền đền bù sở hụi, khiến mấy bà mừng quá. Số là chợ quận nằm trước nhà việc của làng, nên làng Thới Thạnh thi hành lịnh của ông quận, xuất tiền để đền bù cho dân bán cá ròng ròng. Sở dĩ công nho làng dồi dào là do biện chà (người Ấn độ Bengali – gọi là chà và biện cà li) nạp thầu, rồi thâu tiền chỗ ngồi của bạn hàng rong buôn bán khắp chợ.

Dảy trong là rau đậu đủ loại: từ cải xà lách, hành hẹ, rau thơm rau húng của chú chệt rẩy,đến đủ loại khoai lang khoai mì, bí đao bí rợ, rau muống đồng, bông súng, củ co, trái ấu do bà con từ các làng lân cận mang tới. Có riêng một dảy hàng bánh trái và mấy gánh chè cháo. Thỉnh thoảng, giữa buổi chợ đông, có một nhóm Sơn Đông mãi võ và bán thuốc cao đơn huờn tán và rượu thuốc trị bá bịnh. Một bài quyền ngắn điểm mấy tiếng phèn la rồi rao hàng bán thuốc. Tiếp theo là một màn múa tạ hai bánh xe bằng đá xanh xoay tròn nhanh vùn vụt theo nhịp trống; rồi thì quảng cáo nhổ răng không đau không ăn tiền. Đôi khi còn có con khỉ làm trò khiến đám đông xem mê mẩn. Khoảng sân trống lộ thiên này cũng là nơi bà con thường tựu lại “coi hát Tiều”. Hằng năm, bang Triều Châu mời gánh hát Tiều khi thì thùng đen, khi thì thùng đỏ. Họ dựng rạp sàn cao có mái che xoay lưng ra bờ sông, hướng mặt vào nhà lồng chợ. Rạp dựng xong thì họ vầy đoàn có chiêng trống đờn kèn vào chùa Ông cúng bái, xong họ rước ông Bổn về, để trên bàn thờ cho ông coi hát. Tuồng tích thì thường là Võ Tòng sát tẩu, Phan Thế Ngọc đả lôi đài, La Thông tảo bắc v.v... Hát Tiều không bao giờ có ai giải thích bằng tiếng Việt, nhưng vì tuồng tích quen thuộc nên khán giả xem tuồng vẫn say mê theo dỏi.

Hai bên hông nhà lồng chợ là hai hai dảy phố song song. Từ nhà việc nhìn ra, dảy bên mặt, căn phố đầu treo bảng R.O. (Régie d’Opium) là tiệm hút á phiện công khai mà cũng chuyên bán lẻ thuốc phiện. Kế bên là tiệm tàu bán cà phê buổi sáng, hủ tiếu và cơm suốt buổi đến khoảng năm giờ chiều thì đóng cửa. Tại tiệm cà phê này xảy ra hai vụ Việt Minh bắn người hồi 1945. Vụ thứ nhứt, anh Năm Lộc rượt bắn anh ruột là anh Tư Phước làm thông dịch viên đồn binh Pháp đóng trong dinh quận. Vụ thứ hai là một anh kháng chiến đón bắn anh Bá cũng thông dịch viên. Anh Bá bị tật ở chưn đi cà nhắc, lưng hay đeo một lưỡi lê (bayonette) giống như một mủi chỉa, khác với những lưỡi lê thường thấy (giống cây gươm ngắn). Anh Bá cũng có đeo súng lục, nên khi bị tấn công, anh đã bắn trả. Nổ qua nổ lại, bà con chạy xôn xao. Nhưng rốt cuộc, giống như vụ hai anh Phước Lộc rượt nhau, anh Bá cũng không hề hấn gì.

Tiếp cận tiệm cà phê là tiệm tạp hóa của chú chín Xén. Chú có hai người con. Trai tên Nguyễn Trọng Thuật (tên giống như người xưa tác giả quyển Quả Dưa Đỏ); anh Thuật học cho đến 1945 thì vào khu theo kháng chiến. Anh lớn tuổi hơn tôi nhưng học cùng lớp nhứt với tôi. Gái tên Nguyễn Thu Nguyệt ở nhà với chú, có sạp vải riêng trong nhà lồng chợ năm 1957 khi tôi ghé lại chợ trong một lần công tác. Bên cạnh nữa là cửa hàng hai gian chuyên bán vải vóc của cô ba Các. Một mình cô quán xuyến giao thiệp buôn bán tảo tần lo nuôi bầy con. Chồng cô luôn vắng mặt. Sau này, thì biết chồng cô tên Châu Văn Liêm, theo cộng sản bị người Pháp giam tù dài hạn ở Côn Nôn hay Bà Rá?

Từ nhà việc nhìn ra, dảy bên trái cũng là một dảy phố có bàn bi da (billard), tiệm may âu phục v.v... Cuối dảy là tiệm buôn sĩ của chú Châu Chiêu Hiến, ba chị Châu Minh Nguyệt, bạn cùng lớp tôi suốt 6 năm tiểu học. Sau nầy chị Nguyệt có chồng người Tàu ở chợ Cần Thơ.

Bây giờ, tôi trở lại đi dọc bờ sông, theo con đường tráng nhựa từ cầu tầu trước dinh chủ quận. Bờ sông được xây gạch hay tráng xi-măng tùy khúc mà dân quận gọi là bực thạch. Mỗi sáng ghe xuồng từ các xóm làng ghé bến ken nhau tấp nập. Dân các làng xóm lân cận tựu về nhóm chợ mua bán. Họ mang đến đủ thứ (tôm cá, rau cải, trái cây các loại) như tất cả những chợ khác. Đặc biệt mùa gần Tết, thì có hằng chục chiếc ghe chở đầy dưa hấu cập bến, bán cho đến chiều 29, 30 tháng chạp ta. Khi nước ròng, thì bãi lài dọc bực thạch bày nhiều ngói gạch vụn còn lại từ ngày chợ bị cháy hồi đầu thập niên 1930. Vụ cháy chợ này đã thành đề tài một chuyện tiểu thuyết có nhơn vật nữ tên Chăn-Cà-Mum (cũng là tên cô bạn gái chơi nhà chòi với tôi hồi năm tôi 6 tuổi, khi má tôi mới dọn nhà về xóm ngả ba Thới An). Có một thời gian 1941-1942, bà con đào được nhiều đinh cũ đinh sét (rỉ) tại bãi này. Cứ nước ròng bày sình là có hàng chục người chia nhau mỗi người một khúc moi trong sình, bươi trong bãi vụn ngói gạch mà tìm đinh. Tôi có theo mấy anh, lượm đinh mấy ngày, chỉ được vài ký đủ cỡ, vừa đủ dùng khỏi mua thì thôi. Năm đó, khoảng 1940, vì tình hình chiến tranh, vật liệu bằng sắt thép khan hiếm, không nhập cảng được từ bên Tây hay bên Tàu vào nước ta, nên đinh sét vẫn được đem trui lại (nướng gần đỏ rồi nhúng vào nước lạnh), rồi dùng vào việc xây cất nhà cửa, rào dậu. Công cuộc mua bán này cũng chỉ kéo dài không quá một năm thì “xẹp” luôn, vì không ai tìm được thêm đinh sét trong bãi sình dọc theo phố chợ nữa.

Dảy phố dọc bờ sông gồm nhiều tiệm chạp phô (tạp hóa). Chen vào là tiệm thuốc bắc thầy ba Đáo (thầy đông y duy nhứt người Việt của chợ), với tiệm cầm đồ duy nhứt của ba má anh Đởm và Khái bạn học của tôi. Kế đến là tiệm rượu hai căn có môn bài R.A. (Régie d’Alcool) của thầy ba Nhơn. Cách đó mấy căn là tiệm tạp hóa của cậu La Hưng (chúng tôi gọi bằng cậu tám theo chị Lưu Hữu Tuyến và Lưu Hữu Lộc, bạn học của tôi). Rồi tới tiệm thuốc bắc của một ông thầy Tàu. Tôi thường theo ông ngoại tôi hay ba tôi đi bổ thuốc để được ông thầy Tàu lấy trong keo đưa cho một viên kẹo cam thảo thơm ngon. Qua khỏi khu sân trống sau nhà lồng chợ, ngay tại góc là tiệm buôn sỉ của chú Châu Chiêu Hiến. Kế đến là lò tương tàu; bên cạnh là lò tàu hủ kèm đủ thứ đậu khô. Ba căn chót là trường tư thục của ông tú tài Phan Lương Thiệu. Ông Thiệu còn hai người anh: Phan Lương Hiền, Phan Lương Báu. Hình như sau 1951, cả ba vị đều là giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản.

Sau lưng trường tư của ông Thiệu là sân bóng rổ (basket) choáng hết khoảnh đất ra tới đường cái Cần Thơ-Long Xuyên. Thường có học sinh của trường Tàu trong quận đến tập dượt, có khi họ mời những đội banh ở trường khác đến để tranh tài với nhau.

Đi bộ dọc theo lộ cái, lên phía Bắc, chừng 300 thước thì đến sân vận động khá rộng rãi và có tổ chức khá qui mô theo thời đó. Sân đá banh (football, sau này gọi là túc cầu) chiếm trọn chính giữa, chiều dài nằm hướng Đông Tây. Chung quanh là lộ trải cát và tro lúa (lấy từ chành lúa bên kia sông) để tập chạy đua (piste). Ngay cửa ra vào sân vận động, là sân ciment cho lam cầu (basket =bóng rổ). Nằm dọc theo chiều dài phía Bắc của sân là khán đài chứa khoảng 300 người. Dọc theo chiều dài phía Nam của sân banh là các hầm cát để tập nhảy xa, nhảy cao; có khung treo giây luộc lớn và tường cao để tập leo. Cuối cùng là hồ tắm rộng đủ tiêu chuẩn cho các cuộc tranh tài bơi lội cấp liên tỉnh. Mấy anh lớn từ trung học Cần Thơ và Mỹ Tho (tôi còn nhớ một anh tên Tường) từng trổ tài lội mau lội đẹp cho tất cả học sinh trong quận xem mãn nhãn trong dịp đoàn S.E.T. ghé đóng trại hai hôm tại đây.

Sau lưng sân vận động là xóm nhà nằm rải rác dọc bờ phía Nam sông Ô Môn. Gần đầu cầu Rạch Phê có ngôi chùa Thôm Rôm do sư sải người Miên trông nom. Ngoài chùa Thôm Rôm, trong xa rạch Cái Tắc Ông Thục, cách chợ chừng một cây số, còn một chùa Miên của sóc ông Chăng do một ông lục chủ trì.

Bên kia sông, đối diện với chợ quận là một xóm nhà lá khá khang trang, trong đó có trại lá chằm của ba má Nguyễn Phước Cương (bạn học lơp ba của tôi). Ngang nhà lồng chợ, thì thấy cơ sở bề thế của chành lúa và vựa muối hột của một người Tàu. Ông này cũng là chủ nhân nhà máy xay gạo cho cả quận. Từ ống khói cao nghệu, khói đen tuôn cuồn cuộïn triền miên. Dọc bến, lúc nào cũng có vài chiếc ghe chài lớn và nhiều ghe xuồng nhỏ đậu chen. Ban ngày lúc nào cũng xôn xao người vác lúa từ bến lên chành, kẻ khiêng gạo từ chành xuống bến.

Nhìn chung, dân cư ngụ tại chợ quận Ô Môn thời đó phần đông là người Hoa, ngoại ô phía Bắc và Tây Nam là người Miên. Người Việt ở tản mác dọc phía Đông khu nhà lá bên kia sông, khu phía Nam cầu Ô Môn, và phía Tây Bắc ngỏ vào vùng Vàm Nhon, Thới Lai v.v... Cũng có hai gia đình do người Pháp chính tông đến lập nghiệp lấy vợ Việt: Gia đình bà Ba (chồng mất sớm) còn ba người con ở quanh khu cây ô môi: dì năm Na (Anna), dì sáu Bê (Bébé), cậu bảy Mê (Aimé). Dì năm Na có cô con gái tên Chăn Cà Mum (tên Việt là Giỏi). Gia đình Philippe, rể ông cai Bồng ở phía Nam chừng hơn một cây số. Năm 1943-1944, các cô con gái về học trường quận: Lucette, Solange (lớp tôi), Christiane, Philippe con (lớp em tôi).

Một chút sơ qua về mấy ông chủ quận: Nghe nói lại, ngày xưa, ông Hồ Biểu Chánh có ngồi quận này mấy năm. Lúc đó. tôi còn nhỏ quá không biết gì nhiều và cũng không còn nhớ được điều gì chính xác. Sau đó, có một thời, ông Hồ Văn Xuân trấn nhậm 1940-1943. Khoảng giữa năm 1943, ông Nguyễn Ngọc Thơ về ngồi quận, có mấy tháng rồi ông đổi đi. Ông quận Thơ có cô con gái học cùng lớp với tôi. Cùng lớp, nhưng không hề quen, vì con quan chủ quận không thân cận nhiều với bạn bè trang lứa. Nhưng tôi nhớ rõ là nhân trung của cô rất sâu, mà nghe người lớn nói về tướng số: người có nhân trung sâu là người thọ mạng. Suốt Đệ Nhứt Cộng Hòa, tôi không hề nghe báo chí hay dư luận nhắc đến cô con gái của Phó Tổng Thống. Ông quận Thơ đi, ông quận Trần Văn Đắc đáo nhậm tiếp nối cho đến cuối 1945 thì cách mạng kháng chiến. Khi Pháp trở lại thì “quan hai” Học trấn nhiệm một thời gian ngắn.

Vài dòng về ông chủ quận Hồ Văn Xuân. Ông là người chuộng võ thuật, mộ thể thao, thích tổ chức lễ lạc. Sân vận động được hoàn tất vào thịnh thời này. Một năm còn bình yên khoảng 1943, ông tổ chức lễ 14 Juillet trong quận. Thôi thì tưng bừng, đủ cả mọi thú vui lành mạnh. Nào tranh giải bóng tròn (football), giải lam cầu (basket), các môn thể thao (chạy đua, leo giây, bơi lội) có đoàn S.E.T. từ Collège de Can Tho lên dự, tranh các giải với đoàn thanh niên quận Ô Môn, tại sân vận động cách chợ chừng một cây số về phía Bắc. Nào các trò vui bình dân: như thi trèo cây thoa mỡ bò, thi đi cầu rung (cầu làm bằng thân cây cau gốc nằm trong bờ mà ngọn thì đong đưa giửa sông có cây cờ nhỏ xanh trắng đỏ phất phơ theo gió), thi đập nồi nước treo, thi cạp trôn chảo đầy lọ nghẹ, nhứt là hôm đó có mục đua ghe ngo. Lễ 14 Juillet có một ngày, năm đó dân Ô Môn được xem các mục linh tinh từ sáng tới chiều. Riêng tôi, tôi dự xem gần đủ hết các môn, nhưng còn ghi đậm trong trí nhớ của tôi là vụ đua ghe ngo và hoạt động của đoàn S.E.T.

Quận Ô Môn có nhiều xóm do người Miên cư ngụ tập trung quanh một ngôi chùa, thường được gọi là “sóc”. Gần chợ có hai sóc lớn và đông: sóc Thôm Rôm ở dọc Rạch Phê phía Bắc, và sóc ông Chăng nằm trên rạch Ô Môn về phía Tây. Còn nhiều sóc nữa ở xa hơn mà tôi không biết mà cũng không còn nhớ rõ. Mỗi sóc thường có một “lục cả” vừa trụ trì ngôi chùa vừa cai trị dân Miên trong sóc, lo lắng từ học hành cho đến đời sống. Các lục thường giỏi chữ Pháp nói thạo tiếng Pháp, giỏi y khoa thuốc men, giỏi cả bói toán (như Lục Laurent ở Trà Vinh chẳng hạn) v.v... Trường tôi có vài học sinh người Miên nhưng không ai để ý; mà chỉ nhớ đến khi mấy anh chị em này nghỉ Tết Miên. Vào những ngày lễ lớn như Tết Miên hay 14 Juillet, người Miên đi chợ đông đảo hơn ngày thường. Đàn ông thì áo bành tô và vận sà rông, đàn bà thì thường mặc áo “đòn dông” đen hay nhiều màu, phủ tròn quanh thân thể xuống tới mắc cá, hai bên có đường xẻ cao đến nửa ống quyển. Phần đông đi chưn đất (bình dân), một số ít đi dép (khá giả). Riêng các sải mặc áo cà sa vàng mang dép đi chợ. Nhà tôi ở cạnh lộ gần mang cá cầu phía Nam, nên tôi được thấy nhiều sải, đi chợ về xách theo lủng lẳng những chùm thịt heo sống (loại ba rọi). Tôi thắc mắc về việc thầy chùa xách thịt heo, hỏi người lớn thì được giải thích sơ lược về việc các sư Miên thuộc phái Tiểu Thừa, ăn vật thực khuyên giáo được, không bị câu thúc hay phân biệt chay mặn, rau đậu hay thịt cá.

Mỗi sóc thường có sẳn một chiếc ghe ngo để hằng năm, các lục và dân trong sóc làm lễ rước nước theo phong tục bên Cao-Miên - sau này đổi gọi là Kampuchia (Cambodia, hay Cambodge). Nhằm lễ 14 Juillet năm ấy, khi ông Quận mở cuộc đua có treo giải, thì có nhiều ghe từ các nơi về tham dự, trong đó có cả hai ghe của xóm Thôm Rôm và Sóc ông Chăng.

Cuộc đua khởi đầu từ cầu tàu có boong rạp che quan khách (sau này gọi là khán đài) trước dinh quận. Vì không được tới gần khán đài là mức khởi hành, tôi đứng từ ngã ba rạch trên voi đất trước nhà thương nhìn sang. Đoàn ghe đua lớn nhỏ sắp hàng ngang hướng về ngả ba Rạch Phê ở phía Bắc cách cầu tàu chừng 1000 thước. Ghe ngo nào cũng mới sơn phết màu sắc lộng lẫy trông rất vui mắt. Mỗi ghe lớn có 15 người, gồm 12 người bơi dầm chia ngồi hai bên, một người đứng đằng sau giữ lái; một người ngồi xổm dưới chưn người bẻ lái, cầm chiêng, để khi đua thì đánh cầm nhịp cho 12 tay bơi; một người ngồi trước mủi để hô hoán hướng dẫn chiếc ghe. Số người trên ghe nhỏ ít hơn, nhưng vẫn có người đánh chiêng và cầm lái. Hơn chục chiếc ghe sắp hàng náo nức chờ dấu hiệu khởi hành. Tiếng la hét của những người sắp xếp cuộc đua, tiếng cổ võ của những người đứng xem hai bên bờ sông, thật ồn ào hơn nhóm chợ. Pháo hiệu nổ, thì tiếng chiêng, tiếng hò của người hô hoán trước mủi, tiếng reo nhịp nhàng của những tay bơi dầm, cùng phát lên một loạt. Tiếng chiêng, tiếng hô, từ từ nhỏ dần vì các ghe đang tiến về phía Rạch Phê; rồi dần dần lớn lên trở lại, khi tất cả ghe đua đều vòng qua phao cờ làm chuẩn ở giửa sông, trở ra ngang cầu tàu dinh quận, đến đây thì sự so le giửa các ghe đã hiện rõ; các ghe nối đuôi nhau thẳng đến ngả ba kinh Ba Rít ở phía Đông cách cầu tàu cũng khoảng 1000 thước, rồi cũng lần lượt đảo vòng qua phao cờ ở giửa sông làm chuẩn, từ đây trở đi thì cuộc đua trở thành ráo riết giửa ba chiếc ghe dẫn đầu. Tiếng hò hét, tiếng chiêng, tiếng cổ võ từ hai bên sông càng cấp bách gay cấn hơn, cho đến khi ba chiếc trở về cầu tàu trước dinh quận là mức ăn thua, thì thắng bại rõ ràng, chỉ còn tiếng hoan hô trầm trồ tán thưởng kéo dài cho đến khi ông quận trao xong ba giải thưởng.

Cuộc đua ghe chỉ cốt làm cho dân chúng vui chơi trong ngày lễ. Tôi nhớ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng, có bài nói tục lệ hằng năm bên Nam Vang, vua Khmer ngự xuống thuyền, làm lễ cắt giây giăng ngang sông, ngụ ý tháo nước cho chảy xuống miền xuôi, tức tuông vào chín nhánh cuồn cuộn của Cửu Long Giang. Sau tháng này, thì miệt Hậu Giang bắt đầu bị ngập nước, không năm nào tránh khỏi. Tục lệ tháo nước ở Lục Chân Lạp, rước nước ở Thủy Chân Lạp, sớm hơn mùa nước nổi chừng hai tháng. Cứ thấy có đua ghe ngo thì biết là sắp vào mùa nước ngập.

Trở lại các mục giải trí lành mạnh trong dịp lễ 14 Juillet năm này, đoàn S.E.T. từ Cần Thơ lên tham dự các cuộc thi tranh giải thể thao. Đoàn rất hùng hậu gần cả trăm anh chị học sinh của Collège de CanTho. Môn thể thao nào các anh cũng giựt giải: chạy đua đơn, đua tiếp sức có trao gậy; nhảy xa, nhảy cao, nhảy sào; bơi đủ kiểu: nhái, bướm, sải, úp, ngửa, tự do v.v... Mỗi môn, anh em đoàn S.E.T. dự tranh có một hay vài người, nhưng tất cả đều đứng chung quanh sân hay dọc theo lối đua, hò reo tưng bừng “cho nước” rất tận tình, gây hào hứng phấn khởi cho anh em trong cuộc. Nhưng đặc biệt tôi nhớ là cuộc đốt lửa trại trong sân vận động đêm đó. Trong khi vài anh gom củi xếp thành đống theo hình tháp nhọn mủi làm lửa trại trước khán đài, tất cả các đoàn thể thao từ các làng lân cận về dự, học sinh trường quận, đoàn S.E.T. đều được hướng dẫn xếp hàng cách bếp lộ thiên chừng 10 thước hướng về khán đài. Khoảng 8 giờ tối, thì bắt đầu châm mồi lửa. Trên khán đài có mấy chiếc đèn măng sông (manchon) soi sáng cho quan khách, nhưng khoảng sân vặn động trước khán đài chỉ có ngọn lửa hồng bừng bừng cháy tỏa sáng . Quanh ánh lửa trại, lần lượt các anh chị em trong đoàn S.E.T. trình bày những màn kịch ngắn, những bài đồng ca, các bản nhạc phần nhiều là sáng tác của các anh Lưu Hữu Phước, Tô Phương Hiếu v.v... Lâu quá rồi, tôi không còn nhớ rõ thứ tự các tiết mục. Nhưng vì là lần đầu tiên tôi được xem kịch nghe nhạc nên ấn tưọng rất sâu xa và lưu cửu cho đến ngày nay.

Tôi còn nhớ hình ảnh rất linh hoạt nhanh nhẹn, của Tô Phương Nghĩa (bạn học cùng lớp). Năm ấy, anh đang học lớp nhì hai năm (Moyen 2èm Année). Vì được hai anh Lưu Hữu Phước và Tô Phương Hiếu giới thiệu, anh nhập vào ban nhạc của đoàn S.E.T từ trường trung học Cần Thơ lên sinh hoạt giao hữu với các đoàn thanh niên thể thao của quận. Một mình anh đã điều khiển dàn trống chiêng năm sáu chiếc lớn nhỏ, để cầm nhịp cho ban nhạc gần chục anh chị đàn vĩ cầm (violon),mandoline, banjoline, tây ban cầm (guitare espagnol) v.v... trong khi anh chị em khác hát những bài Giòng Sông Hát, Bạch Đằng Giang, Hội Nghị Diên Hồng. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn mường tượng thấy chị Lưu Hữu Tuyến hát (không có micro) trọn bài “Kinh Cầu Nguyện” mà tôi còn nhớ mấy câu:
Người nay đâu tá, có biết hổ cùng đèn lửa
Người nay đâu tá, có biết nước non đâu nữa?
Người nay đang ngủ say sưa bên đường lợi danh!
Người nay đang ngủ say sưa trụy lạc quên mình!

Người xưa đâu tá, hãy nổi gió, mưa, lửa, sóng
Người xưa đâu tá, hãy giúp cho dân Lạc Hồng...


Và những lời hát trên đây còn đeo đẳng trong trí tôi lâu dài cả cuộc đời!
Rồi sau đó chị còn hát bài Hồn Tử Sĩ. Tối đó, nhóm tôi ngồi gần anh tư Lưu Hữu Phước khi chị Tuyến hát bài này. Tôi lẹ miệng nói nhỏ “Bài này bị cấm mà” (Tôi biết vì cậu tám tôi cho biết) thì anh tư Phước bấm vai tôi rầy nhẹ: “Em đừng nói”, mà không trách mắng gì thêm. Sau đó, cậu tám tôi cho biết tại sao tôi không nên nói như vậy.

Đến màn kịch lịch sử, khởi đầu với bản nhạc “Chi Lăng”, diễn lại lớp Lê Sát chém Liễu Thăng thật vô cùng lôi cuốn đối với trí tưởng tượng của một đứa học trò lớp nhì năm đó. Nhân vật chỉ có ba: Lê Sát, Liễu Thăng và Thôi Tụ, nhưng vô cùng linh động và hấp dẫn, nhứt là khi anh Vị (?) thủ vai Lê Sát (áo hồng tay bó, quần đen vấn ống, giày đen, chít khăn võ sinh) đẹp lộng lẫy, hùng dũng vác đao xông ra chém Liễu Thăng đang loay hoay trong vũng lầy tưởng tượng, khiến cả sân vận động đông hàng ngàn, mà im lặng cho mọi người theo dỏi từng cử chỉ, nghe không sót một lời!

Từ đêm đó, tôi quyết tâm đi học Cần Thơ, thi vào Collège, để được theo đoàn S.E.T. dù chưa biết khó dễ như thế nào! Và tôi cũng bắt đầu học thuộc lòng lời hát các bài Kinh Cầu Nguyện, Chi Lăng, Hội Nghị Diên Hồng v.v... Riêng bài Bạch Đằng Giang, thì mấy anh ở lớp nhứt đã dạy chúng tôi hát nhóm, từ năm chúng tôi còn học lớp tư 1939-1940.

Sau này, quận Ô Môn được đổi tên thành quận Phong Phú. Dinh quận cũng dời đến chỗ khác. Một lần công tác, khoảng đầu năm 1962, tôi ghé tiếp xúc yểm trợ, gặp quận trưởng là đại úy Tú tại dinh quận, bấy giờ tọa lạc tại đầu cầu Ô Môn, ngay trên bờ lộ, trên nền cũ của nhà bảo sanh năm xưa. Hơn một năm sau, khoảng giữa năm 1963, thì dinh quận lại dời vào địa điểm mới xây cất quy mô hơn, đồ sộ hơn, trong khu ruộng cách chợ chừng 500 thước, ở phía Tây lộ cái Cần Thơ - Long Xuyên, gần ngả ba cũ củ con lộ đi vào Vòm Nhon Thới Lai.

Từ năm 1963 đến 1975, tôi ít có dịp ghé lại chợ quận ngày xưa; vì tôi được thuyên chuyển ra Vùng II Chiến Thuật. Công tác của tôi từ 1963 đến 1970 chỉ trải qua từ miệt ngoài Quảng Ngãi về đến Phan Rang. Từ 1970 đến 1975 tôi lại chỉ quanh quẩn miền Đông Nam Việt từ Bình Tuy xuống Tân An! Sau 1975, tôi lập nguyện không đi dưới bóng cờ màu máu sao vàng. Lại thêm gần 30 năm qua không về thăm chợ quận!!!



L o n g T u y ề n
ngày 18 tháng 08 năm 2004


Image


13658



Image


x ó m .L U N G .T Ư Ợ N G .
__________________________________________________________________________



Dù có mấy lớp cảng chặn bằng những thân cây dừa cặm đứng hai hàng ngang sông Ô môn, bà con trong làng Thới An vẫn không thấy yên tâm khi chiếc tàu của viễn chinh Pháp (một bên vẽ Annamite 72, một bên vẽ Annamite 73, dân làng tưởng rằng Pháp có hai chiếc tàu giống nhau) vẫn chạy lên chạy xuống ngoài sông cái Hậu Giang, chưa biết ngày nào sẽ ghé vào chiếm chợ quận. Nên dù chưa được lịnh tản cư, nhà nhà đều lo xuồng ghe sẳn sàng đưa gia đình về những xóm xa hơn trong đồng ruộng lánh nạn. Năm đó, ba tôi theo kháng chiến, làm chánh trị viên đại đội trú trong xóm Bà Đồ, lo phòng thủ khu Bình Thủy Trà Nóc. Một mình má tôi mua một chiếc “xuồng cui” lo dọn anh em chúng tôi (tôi, Nhựt, Tường) về xin ở đậu trong nhà ông Tư Giác (anh ruột ông ngoại tôi). Ông Tư sẳn sàng vì ông thương con cháu, mà nhà của ông cũng là nhà thờ ông bà. Xóm Lung Tượng nằm trên bờ kinh, giữa chợ Bằng Tăng và vàm Ba Rít. Nghe ông Tư tôi kể lại rằng cách đấy 50, 60 năm (khi ông còn nhỏ) có một bầy voi mấy mươi con về quầng khu này, lúc ấy còn là rừng tràm. Bầy voi uống nước và giẫm dấu lâu ngày thành vũng sâu gọi là Lung Tượng, nằm về phía Đông đường lộ đá Cần Thơ-Long Xuyên. Từ xóm Bà Đồ, nơi ba tôi theo kháng chiến đến xóm Lung Tượng “tính rợ” chừng 18 cây số, mà thành xa cách muôn trùng: vì đường lộ bị cấm không cho người đi bộ, không cho xe chạy kể cả xe đạp, sông rạch bị rào cảng hoặc cấm không cho xuồng ghe tới lui. Khúc nào thông thương được thì phải qua nhiều trạm kiểm soát. Tin tức của ba tôi ngày càng thưa thớt, thỉnh thoảng có người công tác từ xa, đi ngang xóm cho hay: ba tôi đang gặp khó khăn với cấp trên Khu 9 Nam Bộ, chắc còn lâu mới về thăm nhà được. Má tôi lo lắm nhưng không biết làm sao. Ủy Ban Kháng Chiến Tỉnh cấp gạo cho gia đình chiến sĩ một lần duy nhứt. Tôi tiếp má tôi bơi xuồng lên chợ Bằng Tăng làm thủ tục nhận 20 lít gạo trắng. Trong khi chờ đợi, tôi đi vòng quanh “nhà việc làng” bấy giờ thành trụ sở, để tò mò nhìn ngắm. Đến sau nhà việc, thấy có một gian nhà nhỏ ba mặt vách gạch một mặt toàn song cây vuôn lớn, cửa có xích và ống khóa. Bên trong có người ngồi trên ghế thong thả không bị trói buộc gì. Nhìn kỹ, tôi nhận ra anh hai Trạch, con trai trưởng và duy nhứt của bác năm tôi. Tôi kêu nhỏ, anh quay ra thấy tôi thì anh lắc đầu và khoác tay bảo tôi đi. Tôi không dám nói gì lặng lẽ trở ra. Bấy giờ, má tôi đã lảnh xong 20 lít gạo, mẹ con xuống xuồng bơi về Lung Tượng. Đến khúc vắng không có ai, tôi bò từ mủi xuồng ra sau lái, lại gần má tôi nói nhỏ rằng tôi thấy anh hai Trạch (con trưởng và duy nhứt của Bác Năm tôi) ở trong phòng giam sau nhà việc Bằng Tăng. Má tôi dặn tôi đừng nói lại với ai việc này. Không biết tin tức đi ngã nào mà sau đó chừng 5 ngày, tôi thấy chị hai Trạch đi xuồng ghé lại gặp má tôi. Hai người chào hỏi thân mật như thiếm dâu chồng, cháu dâu chồng, rồi chị hai Trạch ra về sau khi dừng lại vuốt nhẹ đầu tôi mà cười. Sau này, tôi mới biết anh hai Trạch là thầy giáo lớp tiểu học trường Săng Trắng dưới, vì phát ngôn ngang tàng bừa bãi bất lợi cho kháng chiến, bị Ủy Ban Kháng Chiến xã sở tại nghi ngờ, bắt đưa về xã Bằng Tăng nhờ quản thúc. Do vụ lảnh 20 lít gạo cấp cho gia đình chiến sĩ, má tôi chỉ đường cho chị hai Trạch biết mà tìm đến thăm anh. Má tôi xém mang họa về vụ này, may nhờ ở trong khu Hòa Hảo nên không bị lôi thôi.

Tuy chị hai Trạch ghé thăm nhưng chị không cho biết tin gì của ba tôi, tôi càng buồn hơn. Chiều chiều, tôi ra ngồi trên bờ kinh ngó mông về phía vàm Ba Rít chợ quận, ao ước ba tôi đang tìm cách về với chúng tôi. Có hôm tôi mượn xuồng bơi xuôi theo kinh cầu may, nhưng không bao giờ gặp may. Chỉ một lần, tôi đưa một anh thanh niên công tác qua sông. Lần sau nữa, tôi đưa thầy Ba Nhơn (thầy dạy tôi lớp Sơ Đẳng tức lớp ba tiểu học) qua hai cái rạch không có bắt cầu. Tôi hỏi thăm thì Thầy nói Thầy đi vận động cho anh Tư Lưu Hữu Phước đang ứng cử vào quốc hội 1945 (?). Nhưng tin về ba tôi thì bằng bặt. Cho đến một chiều, quá chạng vạng đỏ đèn, có một chiếc xuồng thình lình ghé bến. Tôi thấy ba tôi mặc bộ bà ba đen xách cuộn nóp, leo lên cây cầu dừa, rồi xuồng lại bơi đi. Tôi chỉ kêu ba, rồi đâm đầu chạy vào nhà ông Tư, cho má tôi hay.

Mừng rỡ chưa được một ngày thì tai họa tới. Vì ba tôi là chánh trị viên đại đội kháng chiến chống Pháp, mà về trú ngụ trong khu Hòa Hảo, thì làm sao yên thân được? Chiều hôm sau, ba tôi vừa qua cơn nóng của cử rét, thì có anh Chánh (từng trú tạm nhà tôi để đi học trường tiểu học Ô Môn) đeo súng lục (y như thiệt?) và hai người lạ mặt mang dao găm, đến mời ba tôi đi gặp ông trưởng đoàn võ trang Hòa Hảo khu đó. Nhà ông này ở bên cạnh nhà ông Tư tôi. Ông Tư còn ở ngoài ruộng chưa về. Bà Tư cho cậu chín Chơn đi kiếm. Má tôi sợ quá, ngồi khóc dưới bếp. Dù không được phép, tôi cứ liều đi theo ba tôi qua nhà ông trưởng đoàn. Ông ta ngồi trên đầu bộ ngựa gõ giữa nhà, tay để trên ghế nghi, tỏ vẻ có uy quyền nhưng rất chậm rải ôn tồn bảo ba tôi:
- Dượng hai (kêu theo phía má tôi, thứ hai) là chánh trị viên đại đội chắc chắn có súng, thể nào cũng mang theo về đây. Vậy dượng hai nộp lại cho tụi tui, khỏi bị khó khăn gì hết”.
- Thưa chú Năm, vì không được cấp súng ống mà chỉ được tự sắm tầm vông vạt nhọn để đánh Tây, tôi đã cải với cấp trên Ủy Ban Kháng Chiến Khu 9, khi họ về kiểm soát tình hình cầu Bình Thủy. Tôi đã bị “rầy rà” nặng, nên bỏ chức lo thoát thân về đây với vợ con. Thật tình tôi không có dao găm súng lục hay bất cứ võ khí gì khác, ngoài quần áo cũ và cái nóp, vác về ở đậu bên nhà bác Tư tôi từ chiều hôm qua.
Tôi chen ngồi kế ba tôi trên bệ ván dựa vách, có hai anh đeo dao găm đứng hai bên. Tình hình thật gay go, vì ba tôi nhứt định là không có súng mà mấy ông này vẫn hỏi đi hỏi lại, một mực không tin. Tôi sợ lắm: bởi năm đó, lực lượng võ trang Hòa Hảo rất khắt khe, thường cho Vẹm (Việt Minh) đi mò tôm (trói thả trôi sông) hay mò cá rô (trói thả dưới đìa). May sao, vừa lúc đó, ông Tư tôi, bên nhà qua tới. Ông từ ngoài ruộng về, hay tin, vội vàng qua liền. Thường ngày, ông chỉ “bận” quần xà lỏn, ở trần. Hôm nay, ông ăn mặc chỉnh tề, áo dài đen, quần vải đen, mang dép da, nghĩa là lớn chuyện. Thấy ông Tư tôi vào, chủ nhà (trưởng đoàn đang hạch hỏi ba tôi) vội vàng đứng dậy, mời Ông ngồi. Ông Tư tôi khoát tay, đứng ngay trước ghế giữa, dõng dạc:
- Khỏi! Tao có mấy câu muốn nói rồi về liền. Thằng hai (chỉ ba tôi) là cháu rể của tao, tụi bây cũng không lạ lùng gì! Nó kẹt với Vẹm, nên chạy về đây, ở đậu trong nhà tao. Tụi bây muốn bắt nó, thì cũng phải cho tao hay một tiếng. Sao lại chờ tao kẹt ngoài ruộng rồi tụi bây bắt nó qua đây. Thiệt! Tụi bây coi tao không ra gì hết.
- Dạ, thưa bác Tư, tụi cháu, chỉ mời dượng hai nó qua đây hỏi thăm về vụ súng ống, chớ đâu có bắt bớ gì!
- Vậy thì thôi! Thằng hai nầy không có súng ống gì hết. Nó bỏ bộ đội Bình Thủy về đây theo vợ con nó. Tao đứng ra bảo lãnh nó từ chiều nay. Bây có muốn bắt bớ hay khảo tra gì nó, thì bây cứ tao đây mà bắt. Đừng làm như vậy nữa. Thôi! Thằng hai, chào chủ nhà rồi về.
Ba tôi đứng dậy, chào qua hết mọi người trong nhà, rồi nắm tay dắt tôi theo ông Tư tôi ra về.
Thật ra, chuyện không phải đơn giản như vậy. Chẳng qua, ông Tư tôi là bực trưởng thượng có chức phận cao, nhiều uy tín trong bổn đạo. Nguyên gánh họ Hà bên ngoại tôi ở Bằng Tăng theo Phật giáo lâu đời rồi. Hơn nữa, khi ông ngoại tôi còn làm xã trưởng (thứ 11 trong ban Hội tề hồi đó giữ ấn tức con dấu của làng), có vụ tào cáo Tây (quan thuế sau này) vào làng xét rượu lậu. Cha của ông trưởng đoàn hồi đó có nấu mấy hủ rượu, dấu ngoài ruộng bị Tây bắt. Vì rượu dấu ngoài bờ đế nên gọi là rượu đế. (Đế là một loại lau sậy cao khỏi đầu người lớn, mọc hoang dọc theo các bờ ruộng hay các ụ đất cao). Nôm na, rượu đế là rượu lậu, dân làng không được phép nấu. Ai lén nấu sớm muộn cũng bị Tây đoan (douane) rình bắt; vì quận Ô Môn nằm trong vùng độc quyền của hảng rượu Trà Ôn do người Pháp làm chủ. Dân chúng trong 10 làng thuộc tổng Thới Bảo bắt buộc phải mua rượu công xi Trà Ôn qua trung gian một tiệm bán rượu lớn tại chợ Ô Môn có đóng thuế bài nhì độc quyền mua sĩ bán lẻ gọi là Régie d’Alcool (R.A.). Vì tình chòm xóm, ông ngoại tôi bấy giờ là hương chức làng phải xuống quận, bảo lảnh cho ông ta khỏi tội. Vì liên hệ nhứt cận lân lâu đời như vậy, nên tuy phải tra hỏi ba tôi, nhưng không ai dám làm mạnh tay; rồi đến ông Tư tôi (là vai trên, anh của ông ngoại tôi, mà còn là chức sắc có vai vế cao trong bổn đạo) đứng ra can thiệp cho ba tôi được ở bình yên trong xóm này, mà đa số dân cư là tín đồ Hòa Hảo không có Vẹm (Việt minh), nên lính Tây không đến bố ráp.

Ông bà cố ngoại tôi đến xóm Lung Tượng này từ thời khai hoang lập ấp, nên tạo được điền sản khá rộng gần trăm mẫu để lại cho chín người con (trai lẫn gái); mỗi người non mười mẫu. Gặp thời tản cư, ai cũng làm cho đủ ăn mà thôi, không dám làm nhiều. Cũng không ai muốn làm rẫy (khoai, đậu) vì tình hình vẫn chưa yên. Thành ra ruộng bị bỏ hoang rất nhiều, nên sanh rất nhiều chim cá, nhứt là cá.

Qua khỏi tai nạn, ba tôi mới quay ra tìm cách để sống qua ngày trong khi chờ đợi. Ruộng thì phải chờ ra giêng mới có công cắt (gặt); rẫy thì không ai làm. Chỉ còn tìm cách bắt cá, làm mắm, hay xẻ khô để dành.

Sáng sáng, ba tôi và tôi dậy sớm ra ngoài đồng. Tôi vác thùng và rổ; ba tôi vai vác phảng tay cầm cù nèo. Đi sâu vào trong đồng, gặp vũng nào nho nhỏ, liệu vừa sức, thì gom cỏ vất quanh đó. Gặp vũng nào cỏ song chằng hay lác đưng nhiều quá, thì ba tôi dùng phảng dọn bớt trước, xong hai cha con móc đất sình đấp bờ, rồi dùng thùng mà tát. Cạn tới đâu thì chận bắt tới đó. Đủ loại cá lớn nhỏ: cá lóc, cá rô, cá sặc, cá trắng, có khi vài con tôm nhỏ. Được đầy rổ, cũng đà xế trưa, thì rửa tay cho bớt sình đất rồi đội cá lội băng đồng mà về. Cả nhà, ba má tôi, tôi và Nhựt em tôi xúm lại làm cá, xẻ cá, muối cá, khi xong thì đã xế chiều hay chạng vạng.

Một lần, hai tía con đi qua một khoảng đồng khô chỉ còn chừng 6, 7 vũng sình nho nhỏ mỗi cái rộng chừng cái miệng rổ. Tôi bỏ rổ, bắt đầu dùng tay mò trong sình. Chợt thấy động đậy dưới lòng bàn tay. Tôi ngừng lại, hơi sợ vì e gặp rắn. Thấy yên, tôi tiếp tục mò xuống sâu hơn. Và, cứ lọt vào lòng hai bàn tay thì nắm chặt. Tôi lần lượt lôi lên cả chục con cá lóc lớn hơn cườm tay. Nhưng phía dưới sâu đáy vũng vẫn còn nhúc nhích, tôi chậm chậm thọc tay xuống sình lên gần tới nách, thì tóm được hai con cá lóc lớn hơn bắp chuối bằøng cách hai bàn tay móc vào hai mang cá. Sau đó, tiếp tục mò vét đáy vủng, tôi còn lôi lên được hai con cá rô mề lặn sâu hơn hai con cá lóc lớn. Tôi và ba tôi lần lượt mò trong sình của 6 cái vủng còn lại; lôi hết cá lóc cá rô lớn nhỏ không chừa con nào. “Đâu có nuôi bữa nào mà khen lớn chê nhỏ”. Mò hết cá trong 7 vủng sình là đầy rổ kể như trúng mối hôm đó, khỏi kiếm thêm chỗ khác.

Lần khác, vừa tới bờ ranh đất nhà, tôi ôm thử cây tràm thân lớn hơn vòng tay tôi, rồi tò mò nhìn trên cháng ba thấy ai chơi cắc cớ gác một con rùa kẹt ở đó không biết là bao lâu rồi. Tôi không dám gở ra đem nó xuống vì sợ của người ta làm phép trấn ngoài đồng. Tôi nói với ba tôi:”Gặp rùa kiểu này, chắc bữa nay, kiếm ăn không khá”. Ba tôi cười:”Con còn nhỏ mà tin tin dị đoan”. Tôi làm thinh. Đi khỏi bờ mẫu chừng 50 bước thì gặp một bãi sình vừa khô. Mặt trời đang lên, nắng chói khi tôi nhìn ngược về phía đông. Bỗng tôi thấy có một đường sáng khá dài nằm trên mặt sình. Tôi chỉ cho ba tôi thấy. Đi thêm 20 bước, thì thấy một con rắn lớn bằn bắp tay tôi dài hơn ba thước. Dù hai tía con tôi lại gần, con rắn vẫn nằm yên. Ba tôi nói nhỏ:”Nó lớn quá! Không biết cha con mình có làm lại nó không?”. Tôi nói:”Ba chém ngang cổ nó rồi miết phảng xuống sình; con nắm đuôi nó kéo ngược thì chắc được, miễn sao mình giữ cho còn cái đầu.” Con rắn vẫn không nhúc nhích khi ba tôi từ bước chậm chậm lại gần. Đúng tầm phảng, ba tôi lia mau lưởi phảng chặn ngang cổ con rắn rồi kềm lại đó mà không miết lưởi phảng sợ đầu nó bị đứt rồi vùi lạc dưới sình thì sanh khó lòng. Tôi đã chụp được cái đuôi con rắn. Vì biết là nguy hiểm nếu trúng con rắn hổ ngựa, tôi vừa nắm vừa vuốt ngược thật mau; xương sống nó kêu rắc rắc. Thật là khó khăn vì thân rắn lớn hơn lòng bàn tay, tôi phải bấu năm ngón tay trái thật chặt mà vuốt, không dám dễ ngươi. Khi tay trái tôi nắm được chỗ gần sát lưởi phảng, ba tôi hỏi:”Chắc chưa con.” Tôi gặt đầu. Ba tôi dở lưởi phảng lên, tôi đã nắm được chỗ nó bị chém, trong “hồ khẩu” bàn tay trái (khoảng giữa ngón cái và ngón trỏ theo võ hiệp hay chuyện Tàu) không phải hộ khẩu (từ ngữ Việt cộng sau 1975). Tôi tiếp tục vuốt ngược và nghe tiếng rắc sau cùng. Con rắn hết nhúc nhích. Tôi thử dở nó lên nhưng nặng quá. Tôi đành giữ hai tay như vậy, lôi nó lên chỗ khô. Tôi đè đầu nó xuống đất, cho ba tôi dùng lưởi phảng mà cắt cho đứt tiện lần này. Tôi cuộn tròn thân con rắn bỏ vào rổ, trong khi ba tôi dùng lưởi phảng chẻ cái đầu rắn thành bốn miếng liệng ra bốn phía. Xong hai tía con nhìn nhau thở dốc vì còn sợ; rồi sắp xếp trở về để lo làm thịt khi nó còn tươi. Đi một đổi, tôi cười:”Ngày xưa, Lưu Bang chém rắn khởi nghiệp vào ban đêm; nay ba chém con rắn này tảng sáng”. Ba tôi trầm ngâm không nhắc tích Tàu như mọi khi, rồi một lúc sau mới chậm rãi:”Một là nó đang nằm yên nên ba chém nó được; hai là nó cũng còn nhỏ nên con mới vuốt trọn xương sống nó mà không bị nó cắn. Nếu không, ba với con chắc khó mà bình yên bưã nay!” Sau cùng, chiều hôm đó, bà con xúm lại lột da, đem thịt rắn nấu thịt rừng với hai trái dừa khô và nửa cân đậu phộng cho cả nhà cùng ăn no nê, khác món hơn mọi ngày. Trong khi vui vẻ, mấy cậu bà con tôi cho biết đấy chỉ là một con rắn “ri voi” mê phơi nắng nên mới bị chém như vậy. Tôi có hỏi thêm về vụ con rùa bị kẹt trên cháng ba cây tràm, thì mấy cậu cũng cho hay là con rùa nằm đó 4,5 năm rồi, các cậu có thấy nhưng vẫn để yên không bắt, vì một con rùa thì không thành món nhậu cho nhiều người; mà cũng để thử xem nó sống như vậy được bao lâu.

Cũng trong dịp này, tôi được ăn rau ngổ sống và rau ngổ um với thịt rắn. Rau ngổ là một loại rau rừng, mọc hoang ngoài đồng, bị các bà bếp vườn chê không hái vì các bà chuộng rau muống hơn. Rau muống đồng tược non dài chừng năm tấc màu tía hoặc màu xanh dễ hái cho mau thành bó. Rau ngổ thì hạp với các món thịt rừng nên các ông nhậu biết chỗ nó mọc. Vì có con rắn nhiều thịt, mấy cậu bà con tôi cấp tốc hái về một rổ đầy. Rau ngổ màu xanh lợt, lá nhỏ có nhiều mắc cách nhau chừng 3 hay 4 phân. Nhiều tược non mọc từ nách lá. Mùi rau ngổ nồng hơn rau muống, nhưng gắp một miếng thịt rắn, chấm nước mắm pha nước cốt dừa có đậu phộng và ớt sống đăm nhỏ, ăn với một khúc rau ngổ sống thì quả là ngon. Nhưng vẫn không bằng món rắn um. Rắn um là món nhậu, tôi chỉ là đứa phá mồi. Tôi thấy các cậu bà con lót một mớ rau ngổ dưới đáy nồi. Dùng nước giảo của trái dừa đã vắt xong nước cốt, đổ vào vừa xâm xấp lớp rau ngổ, xong trải thịt rắn đã xắt mõng lên trên. Đậy nắp lại mà hầm cho sôi chừng một dạo liệu thịt chín thì nhắc xuống. Thịt rắn um chấm nước mắm pha nước cốt dừa được người lớn chiếu cố tận tình. Đối với tôi, lớp rau ngổ non um chín mụp dưới đáy nồi lại ngon hơn thịt rắn. Cậu Sáu Ký vừa nhậu vừa cười:”Thịt rắn um rau ngổ là miễn cưỡng, không đúng điệu. Đểû bữa nào cậu đặt trúm được chừng vài con lươn đem về um rau ngổ, cháu sẽ thấy lươm um ngon hơn nhiều; vì lươn mềm hơn; mà rau ngổ um lươn cũng ngọt hơn.” Về sau này, nhờ được tập ăn lươn um, mỗi khi cùng anh em ghé quán “Bảy Rùa” ở xóm ngang hảng xăng Shell ngả ba cầu Bắc; món lươn um rau ngổ là món thịt rừng tôi thích để phá mồi trong khi anh em nhậu món khác.

Có hôm, đi sâu vào trong ruộng hoang, cha con tôi thấy một người đang gom cá trong cái ụ vuông mỗi bề chừng ba thước, có bờ đắp lài từ miệng ụ xuống lạch nước, bao vòng cao cả thước chung quanh. Ba tôi và tôi đứng xem thấy hằng chục con cá lóc lớn bằng bắp tay tôi, hằng chục con cá rô mề bằng bàn tay sè của người lớn. Ba tôi hỏi thì được người bắt cá cho biết ụ này đắp chặn lạch nước đón cá nhảy. Tôi hỏi: Tôi có thấy cá lóc nhảy, nhưng cá rô đâu có nhảy mà cũng vào đây? Người đó cười:”Tại cháu không biết, một là cá rô mề nằm ngang rồi phùng mang mà trườn đi nên lọt vào đây; hai là cá rô cũng nhảy, nhứt là cáù rô mề hay nhảy để ăn lúa đòng đòng (lúa non vừa ngậm sữa) dọc các bờ cống hay bờ kinh mà cháu không thấy đó thôi.”

Hôm khác, ba tôi và tôi không tát cá mà theo mấy người trong xóm đánh trái lăn. Bắt đầu, năm sáu người đứng dăng ngang một cái lạch rộng chừng 5 thước, nước sâu tới bụng, rồi cùng nhau vừa đi tới vừa gom, và cùng vừa lăn tròn tất cả cỏ rác, bèo, rau mác, lục bình. Trái lăn do đó mỗi lúc một lớn thêm, bị bà con cuốn lần lần từ ngoài miệng lạch vào ngọn. Nước bị khuấy đục, trừ vài con cá lớn lội chen qua chân người cuộn trái lăn, còn bao nhiêu tôm cá lớn nhỏ đủ cỡ chạy ngược nước tông lên ngọn. Khi trái lăn lên tới đất cạn, thì mạnh ai nấy bắt trong tầm tay mình. Con nào liệu ăn được thì cứ nắm đầu hay hốt lượm. Xong rồi, cùng quay ra vạch lựa trong cuộn trái lăn những con cá trắng hay tép đất bị cuốn nằm trong cỏ rác. Nói theo tiểu thuyết kiếm hiệp mà tôi rất mê say hồi đó, đấy là một cuộc tàn sát lớn nhỏ không chừa. Một lần đáng trái lăn như vậy, năm bảy ngày sau, nguyên khúc lạch không có một con cá ăn móng trên mặt nước. Cách bắt cá này chỉ là cách kiếm ăn xổi trong mùa nước nổi. Chờ khoảng mùng tám hay 23 là ngày nước kém, người trong xóm cùng nhau “đánh trái lăn” để có ăn tạm trong vài ngày. Người được nhiều thì chừng một thùng đầy; người được ít thì được một nồi kho. Cá trắng được nhiều thì cắt đầu kho hay nấu canh. Còn đầu và ruột thì hai ba nhà gom lại được chừng nửa thùng đem nấu dầu. Năm đó, mọi vật đều khan hiếm, không có chợ búa, không ai dám nuôi heo. Trong xóm không ai “làm thịt” heo gần cả năm trời! Dầu cá chiên xào món ăn thay mỡ heo cũng được. Phần đông thì dùng làm đèn; đèn dầu cá có mùi; nhưng vào năm 1945 không có dầu lửa nhập cảng, nên tùy hoàn cảnh mỗi nhà mà trong xóm có đủ loại đèn: đèn mỡ heo (nhà giàu); đèn dầu cá, đèn rọi mù u; mà sang nhứt là đèn dầu dừa vì dầu dừa vừa sạch vừa thơm.

Một buổi sáng, nước rông đầy kinh. Tôi nghe tiếng người lội nước dưới kinh, tiếng người nói chuyện. Một lúc sau, thấy dì dượng Ba Láng thong thả “kéo heo” trên mặt nước. Đấy là một chiếc xuồng không ai bơi chèo, mà chỉ trải một tấm “đăng tre” từ đầu mủi xuồng tới sau lái. Một đầu tấm đăng thì buộc chặc vào be xuồng; đầu còn lại thả chìm dưới nước. Dì Ba vừa lội vừa nắm đầu đăng chìm trước mủi, dượng Ba Ba vừa lội vừa nắm đầu đăng sau lái. Lội chừng mươi thước thì hai ông bà lôi tấm đăng và xuồng vào bờ kinh. Chưn vừa chấm đất thì hai ông bà cùng nâng dần tấm đăng còn chìm lên khỏi mặt nước. Bao nhiêu cá tép nằm trên mặt đăng bị trút nghiêng lọt hết vào khoang xuồng. Xong hai ông bà lại thả đăng xuống nước, bơi ra giữa kinh tiếp tục như trước. Khi ngang chỗ tôi đứng, thấy tôi nhìn lom lom, dì Ba tánh vui vẻ hỏi tôi:” Cháu biết dì dượng đương làm gì không? Dì dượng kéo heo kiếm mớ cá trèn, mai ra xóm gần chợ Ô Môn bán xổi. Chợ bị cấm không cho nhóm, hỏi má cháu thì biết.” Xong dì dượng Ba tiếp tục kéo xuồng và đăng thả trôi theo cơn nước rông đang dâng đầy kinh Ba Rít.



L o n g T u y ề n
00 giờ 20 sáng, ngày 06 tháng 11 năm 2003



16033



Image


m ộ t .t h o á ng . v ề .
...............t r ư ờ n g .c ũ
__________________________________________________________________________


Từ trường quận Ô Môn, tôi thi vào trường trung học Phan Thanh Giản năm 1945. Thí sinh hơn 300, trường chỉ tuyển lấy khoảng 100 học sinh đủ cho 2 lớp Première Année mỗi năm. Tôi được xếp hạng 23/120. Anh Lâm Chung, từ Châu Đốc xuống thi, đã chiếm thủ khoa năm đó. Ba ngày trước hôm tựu trường, tôi theo cậu Tám tôi đi đò máy từ Ô Môn xuống Cần Thơ. Cậu Tám tôi làm thơ ký văn phòng của trường đã tìm dùm chỗ trọ, và dẫn tôi nhập trường cùng lúc cậu hết hạn nghỉ hè.

Chiều hôm đó, tôi đi bộ từ nhà trọ đến trường cho quen đường đi nước bước. Ngôi trường mà tôi sẽ vào học, không nằm trong khuôn viên tường gạch và mấy dẫy nhà lầu như hồi trước 1945. Vì năm ấy, quân Nhựt chiếm đóng làm “thành lính” chưa trả lại. Trường trung học thời kỳ 1945-1952 chỉ có một dãy lầu quay mặt ra đại lộ Delanoue (sau này là Nguyễn Thái Học) và quay hông ra đường Pasteur, lưng giáp với Thành Vệ Binh Nam Việt (Garde du Sud Vietnam), bên kia đại lộ Delanoue là mấy ngôi biệt thự lầu, trước dành cho hiệu trưởng và giáo sư, nhưng lúc đó cũng bị Nhựt xung công.

Thời gian này vào lúc Việt Minh nắm chánh quyền. Trên toàn tỉnh lỵ Cần Thơ, không còn một người Pháp. Thay vì lính Pháp, thì tôi đã thấy rất nhiều lính Nhựt, kể cả những sĩ quan đeo kiếm lủng lẳng bên sườn, mà chúng tôi gọi là “gươm ô môi". Khi sắp đến cổng thành lính (nằm trên đường Capitaine d'Hers) thì nghe la hét dữ dội bên trong. Nhìn qua khoảng trống của cửa trại mở rộng, tôi thấy chừng 20 lính Nhựt đang dùng súng có cắm lưỡi lê cố sức đâm vào những hình nộm. Binh sĩ tập trận vốn có nhiều nét hung dữ, nhưng lại ở ngay trong sân trường đáng lẽ chỉ dành cho chúng tôi vào học chữ nghĩa, đã làm tôi sợ hãi và suy nghĩ.

Buổi học đầu tiên, thầy Châu dẫn cả lớp chúng tôi đi theo tốc độ ánh sáng lên tận vì sao Bételgueuse to gấp triệu lần quả địa cầu. Thầy Châu là người gieo ý niệm tiên khởi về không gian vô tận vào tầm học hỏi của tôi. Sau đó, còn có quý vị giáo sư Nguyễn Băng Tuyết (Toán), Nguyễn Bá Cường (Pháp văn), thầy Nguyễn Thanh Trước (Thể Dục), v.v... lần lượt dạy chúng tôi theo thời khoá biểu ấn định. Nhưng trong thời gian Nam Bộ chuẩn bị kháng chiến này, không khí ngột ngạt, căng thẳng quá, chen thêm nhiều xáo trộn bất thần, thành ra thật tình chúng tôi không học hành được bao nhiêu. Điển hình như chỉ trong một tuần mà chúng tôi phải xếp hàng chào hai lá cờ trong sân trường. Lần thứ nhứt, chúng tôi chào lá cờ nền vàng sao đỏ gọi là cờ của Thanh Niên Tiền Phong. Sau đấy mấy ngày, chúng tôi lại xếp hàng chào lá cờ nền đỏ sao vàng là cờ của đảng cộng sản Đông Dương. Nhân buổi chào cờ đỏ đầu tiên, thầy Trịnh Huy Tiến có một bài giảng về ý nghĩa lá cờ u ám nầy, trong đó tôi còn nhớ rõ câu “mầu đỏ là mầu máu, mầu cách mạng”. Hỡi ôi! Thầy cũng là nạn nhân của lá cờ này, giống như bao nhiêu nhà trí thức có nhiệt tâm khác mà thôi! Phải đến 30 năm sau, thua trận chạy ra hải ngoại, lúc phải dốc tâm chung lo bảo vệ quốc ca và quốc kỳ của quốc gia Việt Nam, tôi mới tìm hiểu và được hiểu một phần nguyên nhân về việc phải chào 2 lá cờ trong một tuần, khi nước nhà vừa thoát ách đô hộ của Pháp.

Dịp khác, vào một buổi chiều, cả trường xếp hàng trong sân để đón chào lãnh tụ của Nghĩa Sĩ Đảng (cờ hiệu màu vàng có con ó đen?). Bây giờ nghĩ lại thấy vừa buồn vừa tủi. Vì nhằm cơn bát loạn, trật tự bị xáo trộn, nên các thầy tôi là những bực “tôn sư” thời bấy giờ đành phải chịu cho học trò tập họp để tiếp đón một nhân vật không ra hình tướng gì cả (nghiện thuốc phiện), mà bây giờ tôi không nhớ nổi tên họ!!! Khi Việt Minh thật sự nắm chánh quyền, thì Ủy Ban Kháng Chiến tỉnh tập họp học sinh trong hội trường để nghe thầy Khéo nói chuyện chánh trị. Và thầy loan tin rằng trường phải đóng cửa vài tuần để đón tù nhân chánh trị từ Côn Nôn về. Ngôi trường nhỏ hẹp phải đón khoảng 300 “chánh trị phạm” (danh từ năm 1945). Nên quý vị ăn nằm ngổn ngang, trong lớp ngoài hiên. Không có lớp mà cũng không có thầy để học, tôi la cà làm quen với quý vị chánh trị phạm này để nghe kể những chuyện lao tù. Trong dịp này, tôi được học kiểu chào “đưa nắm tay lên ngang trán, lòng bàn tay hướng về phiá trước” (sau này tôi mới biết đó là kiểu chào của cộng sản thời ấy??!! và nhân đọc một tài liệu có thấy nhắc rằng trong nhóm 300 người này, có một số tay tổ cộng sản được đưa vào các vị trí then chốt của Ủy Ban Kháng Chiến Nam Bộ và đảng cộng sản).

Suốt mấy tuần nhập trường, thật sự không học bao nhiêu, nhưng mỗi ngày được tập vác gậy tầm vông đi tới đi lui mấy vòng rồi tan hàng. Tôi theo anh Nguyễn Thanh Tùng (con thầy Trước) xuống chợ, lót gậy dưới mông, ngồi xổm ăn quà vặt, gần hết số tiền của mẹ tôi chắt chiu dành dụm bỏ túi cho tôi phòng hờ mua các thứ thật cần thiết. Cho đến ngày Ủy Ban Kháng Chiến ban hành lệnh tản cư để “tiêu thổ kháng chiến", thì trường đóng cửa, học sinh lo trở về nhà, chờ đến khi trường mở cửa lại.

Tôi thu xếp trở về Ô Môn ngay ngày hôm sau đó.
Cần Thơ tản cư. Rồi Ô Môn tản cư.

-oOo-

Nhưng cuộc tiêu thổ kháng chiến lần hồi tàn lụi sau những tháng dài với rất nhiều cuộc diễn tập của các đội thanh niên trang bị bằng tầm vông vạc nhọn, sau nhiều lần làng xóm xôn xao với những hồi mõ báo động từ ngoài vàm vào cuối rạch, những cuộc chạy vội vã ban đêm, những đám cháy kéo dài nhiều ngày dưới chợ Ô Môn, mà khói lửa ùn ùn đỏ rực phía Nam, mỗi chiều tôi ra cánh đồng khô từ Bằng Tăng nhìn xuống. Lần hồi lực lượng viễn chinh Pháp tái lập an ninh ở chợ Ô Môn và các làng lân cận, rồi cho dân chúng hồi cư. Gần Tết, tôi về nhà bà ngoại tôi ở Thới An. Qua Tết, trường tiểu học Ô Môn mở cửa nhận học trò. Dù rất nghèo, má tôi vẫn hối thúc tôi xin ghi tên trở vào học lại lớp nhứt tại đây trong khi chờ đợi.

Học lớp nhứt trường tiểu học Ô Môn chừng ba tuần thì có thông tri từ Cần Thơ gởi về cho hay trường trung học mở lớp nhận lại các học sinh đã nhập học năm trước, nhưng thời hạn ấn định nộp đơn chỉ có ba ngày. Mới tản cư về, nhà thì nghèo, tôi im lặng không cho má tôi hay tin này để người khỏi lo lắng thêm, dù biết rằng bỏ qua như vậy thì tôi bị trễ một năm học. Cậu Tám tôi sau đó nghe được vụ này, đã rầy tôi ngu dại, nhưng tôi đành cắn răng chịu trận, chờ khoá thi mùa hè 1946.

Sau khi thi lại bằng tiểu học chữ Pháp, tôi lại dự thi tuyển vào trường trung học bằng chữ Pháp, với một bài luận chữ Việt làm ngoại ngữ. (Bác Ba tôi thường gọi đùa tôi là lưỡng khoa tiểu học, vì tôi đã đậu tiểu học và được tuyển vào trường này năm 1945 theo chương trình hoàn toàn Việt Nam.) Khoá này anh Lê Thanh Liêm đậu thủ khoa, tôi đáp hạng 43/120 vì lơ đãng làm trật nửa bài toán. Khi nhập học, tôi được xếp vào lớp B cùng với các anh mà tôi còn nhớ được tên: Huỳnh Văn Ba, Nguyễn Văn Bia, Nguyễn Nam Chân, Đặng Tứ Châu, Lê Ngọc Chính, Tôn Văn Đồng, Châu Văn Hiền, Ngô Thiên Hớn, Nguyễn Văn (?) Khiêm, Bùi Hữu Lễ, Nguyễn Thanh Long, Phan Trung Lượng, Bùi Hữu Nhã, Lê Quang Nghiệp, Nguyễn Thành Nghiệp (sau bị đau mấy tháng phải chuyển sang lớp 1ère C), Dư Thanh Nhựt, Nguyễn Thành Niệm, Trần Paddy, Huỳnh Long Phi, Ngô Đình Phụng, Lưu Tấn Phát, Trương Văn Thại, Võ Quang Thăng, Nhan Văn Thành, Nguyễn Văn Thế, Võ Văn Tiệp, Lại Trí Trân, Đặng Kỳ Trân, Lê Minh Trí, Lê Thiên Tường, Huỳnh Đình Trọng, Lê Thành Vĩnh (sau cũng chuyển sang lớp 1ère C) v..v... Bên lớp A, các chị chiếm 70% như Phan Ngọc Điệp (nổi danh với bài thơ “Ngày Mai Khi Nắng Chiếu Ngàn Cây”) Nguyễn Thị Truyền (sau này là dân biểu), Trần Anh Tuyết, Nguyễn Kim Hoa, Trương Thị Thâu (bút hiệu là Bồng Đảo Thiên Kim), Tạ Thị Liễm (người đẹp sao băng vì chỉ học có một mùa)v..v... Ngoài ra, còn có các anh Nguyễn Bảo, Nguyễn Minh Châu, Lê Thanh Liêm, Phạm Anh Kiệt, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Hữu Hồng là những cậu trai lạc lỏng trong lớp A, sau này chúng tôi gọi họ là những thanh “gươm lạc giữa rừng hoa".

Thầy Dõi dạy Pháp văn, thầy Trực dạy Toán, thầy Liêu dạy Sử Điạ, thầy Tài dạy Việt văn, thầy Trọng dạy Khoa học. Thầy Dõi rất thương học trò nhưng đứa nào cũng rất sợ thầy. Thầy hay nói đùa, nhưng dạy rất tận tình. Tụi tôi ớn nhứt là giờ trả bài học thuộc lòng (Récitation). Những bài Fables de La Fontaine để lại vài kỷ niệm khó quên. Anh Lê Ngọc Chính và anh Huỳnh Long Phi đều bị tật “cà lăm” (nói lấp). Khi thầy kêu, anh Lê Ngọc Chính dù rất thuộc bài nhưng chỉ đọc được có hai câu là tịt, rồi cà lăm không cách gì đọc nhiều hơn. Thầy khoanh “trứng vịt” rồi gọi “le suivant". Đến anh Huỳnh Long Phi bị thầy kêu thì vội vàng đứng dậy, nhưng rặng đỏ mặt tiá tai vẫn không ra một chữ. Thầy cũng cho trứng vịt rồi gọi “le suivant". Thầy phạt mỗi anh “demi-consigne” tức phải vào học nửa buổi chủ nhựt cuối tuần đó do chính thầy kiểm soát. Không biết thầy đã tìm hiểu cố tật của hai anh như thế nào mà tuần sau, thầy gọi lại cũng anh Chính thì anh Chính bớt run và trả bài tương đối trơn tru hơn. Rồi thầy gọi anh Phi, thì anh Phi đứng dậy đọc lia lịa một loạt mấy chục câu thơ La Fontaine, rồi ngừng lại thở vì gần hụt hơi. Cả lớp cười “cái rần", thầy cũng cười theo vì cùng mừng anh thoát nạn. Về sau, thỉnh thoảng thầy cũng gọi hai anh trả bài, nhưng thầy lặng lẽ mỉm cười, ngồi đợi cho hai anh mỗi người một cách, vượt qua cái khớp că lăm của mình, vì thầy biết hai anh đều siêng học.

Thầy Trực dạy Toán chúng tôi một năm, nhưng thật tình tôi không nhớ những bài toán thầy đã giảng, mà chỉ nhớ dáng dấp thầy thật nhu mì, thật lãng mạn khi thầy cầm cục phấn lơ đảng vẽ lên bảng hai trục X và Y, xong thầy ngưng lại ngẩm nghĩ về một kỷ niệm nhắc nhở nào đó, khiến thầy thốt lên câu Lorsque j'étais en France! rồi thầy lặng lẽ trở về bàn ngồi yên lặng cho đến hết giờ!!

Thầy Liêu dạy Sử Điạ nhưng pha thêm Pháp văn vì thầy thích chỉ dẫn cho chúng tôi cách học những chữ nghĩa nằm tại góc các trang trong quyển tự điển (dans les coins des pages du dictionnaire Larousse). Nhờ thầy mà tôi có thêm một số từ ngữ cần thiết khi làm bài luận Pháp văn nạp vào giờ thầy Dõi!

Nhưng tất cả chúng tôi đều “ngán” thầy Trọng. Thầy lớn tuổi, tóc bạc phơ, nhưng rất khoẻ mạnh. Môn Vạn Vật (Sciences Naturelles) thầy dạy bắt đầu lúc 2:00 giờ. Nắng nóng là một, xế trưa là hai, thầy nói rất nhỏ là ba. Môn học này lại không có gì để gây phấn khởi nên đứa nào cũng buồn ngủ, mắt nhìn thầy trân trân, nhưng hồn vía chập chờn theo sao nắng đang nhảy múa ngoài sân. Một hôm, khi giảng về rễ cây, thầy vẽ hình xem rất tục, mà không đứa nào dám cười, sợ bị đòn. Mà thầy đánh thật sự!! Học trò trai bị thầy bạt tay cú đầu là thường, có một anh bị thầy đá đít chạy ra khỏi lớp, làm chúng tôi sợ khiếp vía. Mấy chị gái lâu lâu cũng kể lại chuyện bị thầy véo tai hay la rầy. Nguyên nhân vì trong mấy tháng tản cư, thầy bị mấy ông học trò cũ theo kháng chiến, bắt thầy về tội “việt gian” (vì thầy dân Pháp?), trói thầy cho “mò tôm", may mà phút chót thầy tháo được dây thoát nạn. Thế cho nên thầy ghét “cả tụi” học trò trai. Thầy cho điểm rất nhỏ dù thầy rất công bình. Cho đến mấy năm thầy sắp về hưu, thầy mới đối xử dịu dàng với các lớp mới nhập môn sau này.

Không thể nào quên được thầy Trước, vì thầy dạy chung các lớp môn thể dục thể thao (Éducation Physique). Vì tôi học lớp chiều, nên phải học với thầy buổi sáng. Lâu lâu thầy gom chúng tôi vào phòng họp, kể chuyện thầy trở về làng thăm lại bà cụ đã giúp đỡ thầy khi thầy còn là một học sinh nghèo. Một điểm nữa để nhớ thầy là sau khi dự khóa tu nghiệp hay trại hè gì đó, thầy dạy chúng tôi hát bản nhạc Lào có những câu như sau:
Del lao nhưt nhao xao cay
Mi xư lư quay lan xan đơm ma
Phi nong pôc pống can ma
Gia ty gia qua thay nưa thay tày

Thầy dạy thì “tụi tui” học, thầy hát thì “tụi tôi” hát theo. Thầy bảo bản nhạc này dịch ra tiếng Việt ý nghiã hay lắm. Nếu hôm nay, có anh chị em nào rành tiếng Lào dịch dùm mấy câu trên đây may ra bản nhạc này không bị mai một. Ví bằng “không phải vậy” thì thật tội cho thầy uổng công học hát và phổ biến cho học sinh vì tin tưởng “cha nội Lào” nào đó!! Nhưng thầy không dạy lâu, vì mấy tháng sau đó, thầy theo hiệu trưởng Trương Vĩnh Khánh lên Sài Gòn tham gia chánh phủ tân lập. Hiệu trưởng Khánh lên làm Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Thầy Trước lên làm Thứ Trưởng Thanh Niên. Hai vị tháp tùng convoi (xa đoàn) có hộ tống trở về Cần Thơ thu xếp gia đình hầu đáo nhiệm chức vụ mới. Đoàn xe 70 chiếc bị Việt cộng phục kích khoảng ngả ba Trung Lương gần tỉnh lÿ Mỹ Tho. Ông Trương Vĩnh Khánh và thầy Nguyễn Thanh Trước tử nạn trong trận đánh này. Chúng tôi được xếp hàng theo từng lớp đứng quanh sân cờ để làm lễ tưởng niệm hai vị.

Niên học 1946-1947 chậm chậm trôi qua với những bài thi lục cá nguyệt dồn dập, rồi trường chuẩn bị lễ phát phần thưởng. Trong những ngày học cuối hè, nhiều quyển lưu bút kỷ niệm được chuyền tay để ghi mỗi người mấy giòng (có khi thành 2,3 trang nếu tập lưu niệm của người đẹp trao cho). Sau đó bãi trường nghỉ hè.

Niên học 1947-1948 mang lại cho chúng tôi nhiều thay đổi. Thầy Trịnh Huy Tiến dạy Pháp văn. Thầy là văn sĩ, tác giả quyển Đứa Con Đầu Lòng. Nghe thầy prononcer Demain Matin một lần thì không thể quên được. Mỗi khi chúng tôi trả lời sai, thì thầy nhăn mặt và từ từ thốt: Mais c'est exactement... le contraire. Cái chết của “tụi tui” ở chỗ nghe thầy treo lửng chữ “exactement” thì cứ tưởng bở, chừng thầy buông dài hai chữ le contraire thì mới biết là bị đọa.

Thầy Nguyễn Gia Lịnh dạy Toán. Thầy rất vui tính, dễ dãi và hay nói đùa. Khi dạy về Symétrie Latérale thầy thích lấy thân thể con người làm ví dụ. Qua môn Symétrie Latérale lần hồi thầy dạy chúng tôi về Anatomie hai phái nam và nữ. Giản dị và nhẹ nhàng. Dễ hiểu và vui nhộn. Không biết bên lớp A và C (có mấy chị) thầy dạy như thế nào, chớ lớp B chúng tôi là cười rần rần như nhóm chợ.

Thầy Tài có dáng đi khoan thai của bậc trưởng thượng. Thầy mang kiếng để trệ xuống chót mũi. Thầy luôn mĩm miệng cười bao dung. Nhờ thầy mà môn Việt Văn trở thành thích thú, vì chúng tôi còn mang trọn vẹn kỷ niệm của một năm Việt ngữ “tiền tản cư". Kế đến phải nhắc đến thầy Dương Du Cam. Thầy quả là một giáo sư tài hoa. Cầm, Kỳ, Thi, Họa. Trong những hôm sinh hoạt văn nghệ, nhìn thầy ôm cây đàn “tam” một cách say sưa, mới hiểu thầy hơn và cảm thông nếp sống rất nghệ sĩ của thầy. Và cũng trong niên khóa này, chúng tôi bắt đầu biết thầy Nguyễn Cao Thăng từ Sa Đéc chuyển qua. Chúng tôi được biết thầy ở Pháp mới về (!!!) vì thầy chỉ nói tiếng Pháp. Thầy dạy “Luân Lý". Những bài thầy giảng dài “tràng giang đại hải". Pháp văn không phải là môn ruột của tôi, vì tôi chỉ thủ trên trung bình. Nên khi thầy giảng tôi chỉ lỏm bỏm theo “câu được câu không", tôi chỉ trông thầy cho chép bài Morale khoảng nửa trang giấy hoặc dài hơn chút đỉnh. Tụng kỹ bài tóm tắt của thầy là tôi đủ “vốn".

Niên học 1948-1949 bắt đầu sôi động ngay từ đầu năm. Tình hình chánh trị, tình hình quân sự ảnh hưởng học đường rất nhiều. Từ mùa hè 1946, đã có nhiều anh chị em ra chiến khu. Có tổ chức giao liên đưa qua ngã Đầu Sấu. Có người theo kháng chiến luôn bỏ học. Có người được đào tạo trong “bưng” rồi trở về trường đi học trở lại. Vì đã sẳn mầm hoạt động chìm như vậy, nên không khí học đường bắt đầu bị xáo trộn. Ví dụ, sau hơn một tháng nhập học, công an vào lớp, xin phép giáo sư, mời anh Bùi Hữu Lễ đi “về bót”. Vì tôi ngồi kế bên, anh vừa thu xếp tập vở vừa dặn nhỏ: “Cho ba tao hay”. Khi tan học, tôi đi bộ vào nhà anh ở sau nhà thờ và nhà thương Cần Thơ, thì thấy công an còn vây xét. Sau này thì Trương Văn Thại (đã chết ở San Jose cách đây mấy năm) cho biết nó chạy xe đạp vào kịp, di tản thùng lựu đạn qua nơi khác trước khi công an đến. Học sinh vào lứa tuổi 15,16 trở lên hay bị bắt đi nửa đêm, xếp hàng cho “bao bố” nhìn mặt. Sự chống đối ở tỉnh nhỏ và xa không gay cấn bằng tại Sài Gòn. Học sinh biểu tình chống Pháp mà cũng chống luôn chánh phủ Nguyễn Văn Tâm. Những cuộc bãi khoá càng ngày càng lan rộng từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho.

Hơn 600 học sinh Phan Thanh Giản xôn xao về các vụ biểu tình và bãi khoá ở Sài Gòn và Mỹ Tho. Rồi một hôm, chúng tôi cũng “ngưng học” nhưng vẫn ngồi lỳ ở trong lớp. Quý vị giáo sư, giám thị họp trong phòng hiệu trưởng và quyết định đến lớp dạy như thường lệ. Học sinh rất sợ thầy, nhưng vẫn muốn bãi khoá theo nguyện vọng của mình. Lớp 3ème B chúng tôi có mấy tay “bản lãnh” hè hụi kéo các bàn học chồng lên nhau tấn cửa vào lớp. Nhằm giờ thầy Lịnh dạy Toán chúng tôi hôm đó. Thầy đến kéo cánh cửa mở ra, thì bàn ghế đổ lổng chổng về phiá thầy. Bắt buộc thầy phải chạy trở lui ra sân, may mà không bị thương tích. Tình thầy trò bớt đằm thắm sau buổi bãi khóa tại chỗ hôm đó, cũng là hôm học sinh Phan Thanh Giản bắt đầu nhập cuộc đấu tranh bất bạo động nhưng rất căng thẳng và quyết liệt trong thời quân đội viễn chinh Pháp còn chiếm đóng Việt Nam.

Năm 1949, tất cả học sinh Phan Thanh Giản chừng 600 từ 1ère Année đến 4ème Année, cộng thêm 6ème5ème Moderne. Khi cuộc biểu tình diễn ra ở Sài Gòn thì chúng tôi đang bãi khoá nằm nhà. Cùng chung tâm trạng háo hức, chúng tôi theo dõi tình hình bằng cách mua các báo mỗi chiều do xe đò từ Sài Gòn chở về. Có một vài anh chị em con nhà khá giả, nên được nghe tin do đài phát thanh loan đi. Dù vậy, mọi điều cần thiết thông báo cho nhau đều chậm một ngày. Trên lớp tôi, có anh Nguyễn Văn Loan học 4ème A là người thông thạo theo dõi tình hình “sát nút”. Tôi gặp anh hằng ngày để học thêm bài vở cũng có, mà học thêm về “chánh trị” cũng có. Năm đó, mà anh đã chuyển cho chúng tôi các quyển Talon de Fer (Jack London), La Mère (Maxime Gorki), Les Indomptables (Boris Gorbatov). Và anh cũng nghiền ngẩm quyển Le Capital của Karl Marx, rồi bàn luận với chúng tôi những đoạn mà anh cho là hữu ích theo khuynh hướng thiên tả rõ rệt.

Anh chị em ở Sài Gòn biểu tình và xô xát như thế nào chúng tôi không rõ, duy được anh em có radio cho hay là nhiều anh em trong đó có anh Trần Văn Ơn đã bị cảnh sát đánh chết. Vì báo chí có mặt tại chỗ kịp thời công khai hoá vụ anh Ơn nên chánh quyền không che dấu được, khác với vài anh em kia cũng thương vong nhưng thi hài bị di chuyển mất tích thành ra bị mai một. Chị Trương Thị Thâu lên học Sài Gòn năm này và nghe đâu hôm “đụng trận” đó, chị có mặt tại chỗ và là chứng nhân của cuộc đàn áp. Phần chúng tôi, khi hay tin này, phẩn nộ cũng có, lo âu cũng có. Phản ứng của anh Loan là liên lạc với các anh em lo tổ chức lễ truy điệu ngay trong sân trường, nơi chúng tôi đang học. Thật ra, trường có cho phép hay không, tôi không biết. Anh chị em tổ chức buổi lễ như thế nào, tôi chỉ biết sơ lược, nhờ anh Loan cho hay. Chánh chủ tỉnh (chưa có danh từ tỉnh trưởng) Cần Thơ bấy giờ là ông Trương Trường Vịnh, một bậc đàn anh, du học Pháp về, có óc tân tiến, không cho cảnh sát công an đàn áp hay ngăn trở lễ truy điệu này. Suốt hai ngày chuẩn bị thật xôn xao, rộn rịp vì nhiều điều phải làm, phải tốn tiền trong khi học sinh còn phải nhờ cha mẹ “nuôi cho ăn học”. Thật ra, bấy giờ ở Cần Thơ có bác sĩ Lê Văn Thuấn là một người thật có lòng đứng ra đài thọ hầu hết các chi phí. Các em trai, em gái cuả bác sĩ Thuấn, cũng là học sinh Phan Thanh Giản (như anh Lê Văn Trảo thì nhiều người biết) đều tận tâm gánh vác các công tác tổ chức. Phòng mạch của bác sĩ Thuấn là nơi anh chị em tụ tập công khai để lo việc này.

Sáng hôm ấy (19 tháng giêng 1949), chúng tôi vào trường từ sớm để lo chăng biểu ngữ, trang trí sơ sài nơi làm lễ. Vừa làm vừa nhìn xem có ai lạ mặt, vì chúng tôi không sợ công an bắt, mà chỉ sợ giờ chót, bị cảnh sát giải tán. Đồng bào lần lượt kéo vào mỗi lúc một đông. Khi bắt đầu buổi lễ truy điệu thì sân trường đã đen nghẹt, chỉ còn có một khoảng trống rất nhỏ chừa lại ở giữa. Những người không vào được đứng bên ngoài đường Delanoue, và Pasteur. Số đông ước lượng hơn ngàn người, chưa kể hầu hết 600 học sinh có mặt.

Tôi không còn nhớ rõ buổi lễ diễn tiến tuần tự ra sao, chỉ nhớ phút giây nặng nề nhứt là lúc anh chị em khiêng chiếc quan tài giấy, sơn đen từ từ tiến vào nơi kê sẵn hai con ngựa gỗ, thì phần đông chúng tôi đều ứa nước mắt. Tôi thấy nhiều phụ huynh, nhứt là các bà đứng ở hàng trước, đã khóc thật sự.

Khi anh chị em đặt chiếc quan tài giấy lên hai con ngựa gỗ, không khí bỗng trở thành nghiêm trọng. Hàng ngàn người dự lễ, nhưng không nghe ồn ào như các đám đông vẫn có, nếu không nói là im lặng. Trong bầu không khí trang nghiêm đó, anh Nguyễn Văn Loan, học sinh giỏi nhứt của 4ème, đương nhiên thành trưởng tràng của năm học, đọc bài diễn văn nẩy lửa, dõng dạc tố cáo chánh quyền hiện thời (Trần Văn Hữu là thủ hiến, và Trần Văn Đôn-père là đô trưởng) ra lệnh cho cảnh sát đàn áp học sinh ở Sài Gòn. Đến lượt tôi phát biểu sự phẩn nộ của học sinh Phan Thanh Giản đối với cuộc đàn áp đổ máu này. Sau phần phát biểu của tôi, thì đến phần hoả thiêu quan tài giấy màu đen tượng trưng thi thể anh Trần Văn Ơn và các anh em khác cũng bị cảnh sát đánh chết nhưng tử thi bị chánh quyền chôn dấu không được nêu danh như anh Ơn. Thầy Đỗ Văn Của đã chụp những bức ảnh “để đời” cho tất cả học sinh trong dịp lễ truy điệu này. Khi ngọn lửa tàn rụi, thì đồng bào tuần tự đi ngang chỗ tro than còn lại trước khi ra về.

Tôi có nghe đồng bào cho tiền ban tổ chức trang trải chi phí. Một số anh chị em tự nguyện “đi bộ” lên Sài Gòn để dự đám táng anh Ơn. Vì quan tài của anh Ơn được quàng lại và đám ma của anh được tổ chức rất trọng thể mấy ngày sau đó. Không biết anh chị em đã đi như thế nào, mà lên kịp để dự đám táng, giống như anh chị em từ trường Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho). Nghe kể lại đám táng có coữ hàng mấy trăm ngàn người dự. Xe xích lô chở tràng hoa dài hằng cây số v.v... Sau này, có một thời gian, các trường công đồng lấy ngày 19 tháng giêng làm lễ kỷ niệm học sinh xuống đường chống thực dân Pháp.

Qua vụ lễ truy điệu “trò Ơn” ở Phan Thanh Giản, một số anh chị em bị công an mời “về bót” hỏi thăm. Muốn yên thân, một số anh chị em bỏ Phan Thanh Giản lên Sài Gòn. Một số anh chị em con nhà có quyền thế, được cha mẹ đưa đi học ở các trường không bạn bè bị lôi kéo, dù các anh chị thật sự rất muốn "xuống đường". Một số khá hơn nữa, được cha mẹ có đủ khả năng đưa ra ngoại quốc du học. Một số khác tìm liên lạc vào bưng theo kháng chiến. Nhưng phần đông thì vẫn ở lại chờ công an bắt, công an không bắt thì chờ trường mở cửa để đi học lại, vì anh chị em thì ham học, mà bãi khóa lâu quá, mất hết bài vỡ, không theo kịp chương trình.

Trong khi chờ đợi, anh chị em quay ra tập diễn vỡ kịch thơ “Chàng Về Hồ” để kiếm tiền gây quỹ. Kịch thơ này nghe đâu của thi sĩ Nguyễn Trọng Hoành (?) ở Sa Đéc (?) sáng tác. Kịch thơ khá dài nói lên sự băn khoăn của những kiếm sĩ Việt Nam thời Mạt Trần, đang chống lại Hồ Quý Ly, thì hay tin Trương Phụ dẫn đại binh xâm lăng cõi Việt. Sĩ phu hữu trách trong nhóm "phục Trần" phải chọn một trong hai đường: theo Hồ Quý Ly chống ngoại xâm, hay hưởng ứng đội binh của Trương Phụ dùng danh nghĩa phù Trần để hạ Hồ là kẻ soán nghịch? Sĩ Thành, thủ lãnh cần vương và Phan Châu chủ trương "về Hồ". Lê Cầm bỏ đi, tiếp tục lo "phục Trần, không theo Minh, không về Hồ". Kim Định toan mang quân theo Trương Phụ thì bị Phan Chau giết sau một màn tranh luận.Thuyết phục chiến hữu đã khó khăn, thuyết phục trong gia đình càng khó khăn hơn, vì vợ Sĩ Thành là Vân Khanh, công chúa Trần triều. Khi biết "Chàng Về Hồ", thì Nàng trầm mình tự tử. Cốt chuyện dã sử thì như vậy. Nhưng thật sự chủ trương của anh em đằng sau, là muốn dùng tựa đề “Chàng Về Hồ”, gợi ý cho thanh thiếu niên về với kháng chiến, hay nói rõ hơn “về với Hồ”, mà Hồ ở đây là Hồ Chí Minh. Anh Hồ Thanh Thủy thủ vai “nam” chánh (phò mã Sĩ Thành), chị Minh Tâm thủ vai “nữ” chánh (công chúa Vân Khanh), anh Văn Bá Ninh thủ vai Lê Cầm, anh Lê Văn (?) Thượng thủ vai Phan Châu, anh Trần Văn (?) Bé thủ vai Công Án. Vai thị nữ không chị nào chịu lãnh, phải chờ giờ chót mới có người nhận. Vai lính già thì có Trương Văn Thanh (anh này làm vở kịch nhộn lên nhiều lần). Nhóm kiếm sĩ hạng nhì, thì phân phối cho các anh em thích thơ và kịch, trong đó vai kiếm sĩ Văn Khải giao cho anh Hưởng (?). Đang tập nửa chừng, kiếm sĩ Văn Khải bị gọi về quê, nên thầy tuồng Nguyễn Văn Loan bắt tôi vào trám vào chỗ trống, để tiếp tục. Phần tập tành diễn kịch thì thực hiện ngay trong trường không trở ngại vì các thầy cũng thông cảm sự hăng say của đám môn đệ. Hơn nữa, còn có thầy Nguyễn Văn Kiết, dù không có một lời chánh thức khuyến khích, nhưng thầy là con người cách mạng, tân tiến, sinh trưởng từ “18 Thôn Vườn Trầu”, du học Pháp, cử nhân văn chương, thi sĩ và học giả nên thầy nhìn các cuộc bãi khoá biểu tình, khác hơn chánh quyền. (Sau này, thầy vào bưng làm Phó Thủ Tướng (?) cho Huỳnh Tấn Phát!!). Nhưng phần mướn rạp để trình diễn thì gặp quá nhiều khó khăn vì các chủ rạp không muốn dây dưa vào tụi “bãi khoá” e liên lụy!!! Loay hoay thế nào, vụ không mướn được rạp lại đến tai chủ tỉnh Trương Trường Vịnh. Ông kêu nhóm anh em lo thuê rạp vào và cho biết: “Không rạp nâo cho mướn, thì cứ mang vào dinh chủ tỉnh mà diễn”. Khởi nghe, tưởng ông nói đùa, nhưng quả nhiên ông nói thật. Thế cho nên, tập thì cứ tập, bán vé thì cứ bán. Người mua vé cũng muốn xem vỡ kịch diễn trong dinh chủ tỉnh. Hai ngày trước khi diễn kịch, ông Vịnh cho phu dọn phòng tiếp tân chánh thức, cho người phụ bày 250 ghế cho khán giả. Lẽ tất nhiên, phần an ninh chung thì do công an lo phần chìm, cảnh sát lo phần nổi. Buổi trình diễn suông sẻ, xuôi thuận, hào hứng, gay cấn, vui nhộn v.v... Vui nhứt là khi công chúa Vân Khanh nhảy xuống hồ Tây tự tử (Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây), thì quân (do Thanh Khỉ Già thủ vai) xông vào sân khấu mếu máo:
- Bẩm tướng công
Sĩ Thành: Việc gì mà tất tả
Quân: Lệnh bà con!
Sĩ Thành (vội vàng): Sao? Lệnh bà làm sao?
Quân: Lệnh bà con vừa mắc kẹt chuồng trâu. Dạ. không phải. Lệnh bà con vừa đắm ngọc chìm châu!! Hu hu!!

Khán giả và hậu trường cười gần chết luôn, làm nhẹ bớt không khí bi thảm, lúc Sĩ Thành hay tin Vân Khanh tự tử. Sau đó, còn có màn hỗn chiến giữa quân Minh và nghĩa quân trở thành hài kịch, bởi kiếm sĩ Văn Khải đánh với tướng Tàu (Liêu Sanh Camille thủ vai) vì hăng trận quá quên kiếm bằng gỗ chém nhau dữ dội, gãy hai thanh kiếm, vai trò tướng Tàu là bị giết, nên kiếm sĩ Khải phải đột kích từ phía sau nắm tóc tướng Tàu mà cứa cổ, trong khi anh này đang "cương" ba hoa khoe thắng trận, làm khán giả cười nghiêng ngả!!
Sau vụ diễn kịch “Chàng Về Hồ” thì trường mở cửa, anh chị em chúng tôi những đứa còn lại đều vui vẻ trở vào lớp học hành siêng năng chăm chú như trước khi bãi khóa và truy điệu anh Ơn.

Cuối năm học 1948-1949, trường mở khoa thi Diplôme (D.E.P.S.I. tức bằng thành chung sau bốn năm học) như thường lệ. Đặc biệt, năm nay cho các học sinh lớp 3ème có khả năng dự thi. Tôi và vài anh nạp đơn thử thời vận. Khi chấm bài xong, thầy Trọng gọi một số học sinh trong đó có tôi gặp thầy. Thầy nói rằng: “Nếu mấy trò cần bằng cấp để xin việc làm giúp cha mẹ, thì hội đồng giáo sư sẽ tăng điểm cho đậu dự khuyết. Nếu các trò tiếp tục học thêm thì các giáo sư không xét nữa, vì như vậy các trò sẽ thiếu căn bản khi lên các lớp cao hơn” . Dù rất muốn đậu bằng này, nhưng miệng mồm nào mở được, tôi đành nín thinh mà chịu. Anh Từ Văn Bê lớn tuổi hơn tôi, vì hoàn cảnh phải nhập học trễ, anh thi đậu khoá này, sau đó anh thi luôn vào Second, khỏi bị trễ thêm một năm. Cũng cuối mùa hè này, thầy Nguyễn Văn Kiết được hiệu trưởng Hồ Ngươn Trực mời sang dạy trường trung học Mỹ Tho. Nhân đó, có một số anh em theo thầy Kiết nạp đơn thi và đầu quân vào trường Nguyễn đình Chiểu.

Niên học 1949-1950 lại tiếp tục “ạch đụi” vì hậu quả các vụ bãi khoá, truy điệu năm trước. Một phần cũng có bị sách động chìm nổi. Có những khóa huấn luyện đặc biệt do người trong khu đảm trách, tôi có biết nhưng không chịu dự. Có những anh em đi khu một thời gian rồi được đưa trở về, như anh Nguyễn Văn Kính là trường hợp điển hình. Anh đi khu rồi trở về đi học lại. Nhưng không thể yên mà học, vì anh cứ bị công an gọi lên điều tra thường xuyên, riết rồi việc anh bị công an bắt, được xem như cơm bữa. Các thầy dạy cũng nản vì học trò “lo ra” nhiều quá!

Đầu năm 1950, học sinh Phan Thanh Giản tổ chức lễ kỷ niệm “Hai Bà Trưng”! Các chị: Nguyễn Thị Truyền, Trần Anh Tuyết, Lưu Thị Sáu, Nguyễn Kim Hoa, Trương Tố Hoa, Châu Ánh Tuyết, Nguyễn Ngọc Hương, Nguyễn Thị Xuân Viên, Trần Thị Tuyết,Trần Ngành Oai, Phan Ngọc Hoa, Huỳnh Cẩm Châu, Lê Như Tuyết, Nguyễn Tuyết Hoa, Phan thị Thưởng (?), Lương Thị Cẩm Nhung và nhiều chị khác, cáng đáng các phần chánh của buổi lễ. Các anh thì lo trang trí lễ đài, biểu ngữ, v.v... (Trương Tấn Nghiệp, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Thành Long, Lê Bá Diêu, Nguyễn Văn Nhựt, Phan Anh Dõng, Trương Văn Thanh, Nguyễn Kim Sơn, và nhiều anh khác). Tất cả hơn 600 học sinh đều tham dự lễ Hai Bà (sau này Đệ Nhứt Cộng Hoà chánh thức công nhận lễ này là quốc lễ).

Sau lễ Hai Bà Trưng, trường lại bãi khoá! Đây là một trở ngại cho lớp 4ème, vì là năm thi ra trường (bằng Diplôme). Chỉ còn có mấy tháng là tới mùa thi. Chương trình học chưa hết, không biết ngày nào trường mở cửa lại. Giáo sư có mở lớp luyện thi, nhưng đâu phải học sinh nào cũng có tiền học thêm! Một hôm, tôi đang đi bắt cá ở bờ rạch, thì em tôi ra kêu tôi về vì anh em Phan Thanh Giản có chuyện cần. Tôi tắm rửa qua loa, rồi đi họp. Anh chị em đưa ra vấn đề chống thi để thảo luận và quyết định. Tôi cực lực phản đối vụ chống thi vì tôi biết chủ trương này do ở trong khu đưa ra. Tôi bị một chị (đang lập hồ sơ du học) xếp tôi vào hàng tha thiết với bằng cấp. Tôi ráng nhịn người đẹp nhưng vẫn lý luận rằng muốn chống thì phải chống từ hồi đầu năm, anh chị em sao nhãng học hành, tất e ngại không muốn dự thi. Còn bấy giờ, dù đang bãi khoá, anh chị em đã và đang ôn bài chuẩn bị đi thi, thì khó mà thuyết phục. Mặt khác, bãi thi chỉ thiệt thòi cho học sinh nghèo, anh chị em khác được cha mẹ có khả năng, có phương tiện, có quyền thế cho đi học trường khác, hay xuất ngoại du học. Hơn nữa, bãi thi không ảnh hưởng gì tới chánh quyền dù Pháp hay tay sai của Pháp. Khi tôi phát biểu như vậy, nhiều anh chị em chê tôi "yếu" quá. Sau này, tôi được biết thêm những anh như Huỳnh Hữu Hồng, Lâm Võ Hoàng đều chống lại ý định bãi thi năm đó. Cho tới bây giờ, tôi vẫn đinh ninh rằng lập luận của tôi năm đó là đúng, dù không thuận theo anh chị em, dù không làm vừa lòng “ở trong”, vì có thể họ chủ trương anh em học hành càng dở dang thì càng dễ cho họ lôi cuốn dưới chiêu bài “kháng chiến chống Pháp” . Lẽ tất nhiên, phải nói rõ thêm rằng phần đông anh chị em học khá đều muốn thi, không muốn bỏ. Trong những anh chị em học khá, cũng có nhiều người đang chuẩn bị xuất ngoại, nên đối với anh chị em này, thi hay bỏ thi không còn quan hệ nữa. Nhưng rồi vạn sự cũng tuần tự trôi qua. Đến ngày thi, hai lớp chúng tôi trình diện gần đủ mặt.

Sau mùa thi, dù đã đậu bằng thành chung, tôi lại bị dằng co: bỏ học thì tiếc, mà tiếp tục thì cha mẹ không có tiền vì phải qua Mỹ Tho hoặc lên Sài Gòn. Tôi nộp đơn thi vào trường Sư Phạm ở Sài Gòn cùng khóa với anh Vương Từ Mỹ. Tôi nộp đơn thi vào trường Võ Bị Đà Lạt cùng khóa với anh Nguyễn Đinh Sách. Tôi nộp đơn thi vào lớp đệ nhị trường trung học Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho cùng khóa với Lê Thanh Liêm, Nguyễn Đinh Sách, Nguyễn Thanh Long. Hôm đi thi, cậu Bảy tôi theo lo dùm chỗ ăn chỗ ở mấy ngày, khiến chị Gabrielle Phan "kêu ngạo" tôi dài dài. Sau cùng, tôi thi đậu vào lớp đệ nhị: anh Lê Thanh Liêm đậu hạng 1, tôi đậu hạng 2. Thầy Kiết bốc hai đứa tôi lên học thẳng lớp Première, cho đở bớt một năm học. Cậu bảy tôi thấy tôi học được, hứa giúp tiền đi học. Lúc đó, thật là "khoái chí tử", không còn phải đắn đo, băn khoăn nữa!

Tôi rời Phan Thanh Giản đã hơn 45 năm!!! Suốt thời gian dằng dặc này, tôi vẫn có nhiều dịp trở về Cần Thơ, tôi vẫn có vài dịp trở lại trường. Nhưng đến năm chánh phủ trả lại khu trường lớn với mấy dãy lầu có hàng rào gạch vây quanh, thì ngôi trường mà tôi theo học 4 năm, lại có đổi thay mỗi dịp tôi đi ngang đấy. Vòng rào quanh trường còn đó, nhưng bóng dáng tuổi thơ thế hệ 1945-1950 đã tản mác bốn phương trời! Bao nhiêu ước mộng nâng niu ngày xưa, bây giờ có khi không còn lấy một giòng lưu bút, vì biến cố 30/04/1975 đã xóa gần hết kỹ niệm mà chúng tôi trìu mến! Những người bạn cùng lớp với tôi, nay hầu hết đều trên 60, điểm lại thử ai còn ai mất? Chí hướng "dời non lấp biển" đã bị những búa rìu thời gian đẻo mòn gần tới gốc! Vốn liếng nghĩa ân chắt chiu mấy chục năm bị trận bảo 30/04/1975 quét sạch. Ngay cả, những anh em theo kháng chiến rồi theo cộng sản, bây giờ có bình yên trong tâm tư, hay vẫn còn oằn oại vì lý tưởng bị chối bỏ phủ phàng?

Không biết những anh chị em đã xem hay đã góp vai khi diễn vỡ kịch "Chàng Về Hồ" có còn nhớ đoạn này, khi Lê Cầm thất vọng đai kiếm ra đi:
Ôi! nơi đây, êm đềm bao ký ức
Tim gan thép, từng chung niềm rạo rực
Rượu từng say, gươm ngủ gác bên gươm
Máu cừu thù chia uống, giốc phong sương
Xưa đến đây gió trời dâng nao nức
Nay ra đi trong lòng không rạo rực
Ta cắn môi cắn đứt cả tơ vương
Ôi! Hoàng lương tất cả! mộng hoàng lương!
(cười khanh khách)
Trót đã hẹn với lòng không yếu nữa
Chí làm trai ở dặm ngàn da ngựa
Sao hôm nay để lệ ngập ngừng mi!
Không cười lên cho nát cả tim đi
Cười lên nữa cho tan niềm thống hận
Ta ra đi ôm cùng trời bi phẩn
Tim nghiã quân qua một mủi tên xuyên

Ngày xưa, Lê Cầm rất đau khổ và cô đơn khi phải rời bỏ anh em, nhưng quyết không chịu về Hồ. Hiện nay, "lính già thua trận" cũng đang mang niềm cô đơn của Lê Cầm trong mấy câu thơ mà anh Văn Bá Ninh đã diễn đạt xuất thần hơn 40 năm trước đây. Mấy anh đã về Hồ mấy chục năm nay, bây giờ đã tĩnh giấc hoàng lương? hay còn chìm đắm trong cơn mê bằng bặc?

Trường xưa còn đó. Ngôi nhà hai tầng còn đó, nhưng các thầy tôi đã lần lượt quy tiên. Những ông thầy đi bộ vào trường tay ôm chồng sách vỡ và các xấp bài của học trò! Những ông thầy đạp xe đạp, có chiếc mới tinh khôi như xe cuả thầy Dương Du Cam, hoặc cũ mèm như xe của thầy Dương Văn Dõi, hoặc nhưng chiếc xe hết sức trung bình như xe của thầy Nguyễn Băng Tuyết, thầy Trịnh Huy Tiến. Những ông thầy ăn mặc dãn dị, vừa đủ tươm tất, không bao giờ diêm dúa! Thường thì sơ mi dài tay, quần tây dài, có thầy luôn complet đủ bộ. Đôi khi, có thầy cũng mặc "short" như thầy Nguyễn Cao Thăng, khiến chúng tôi thấy thầy càng cao hơn ngày thường. Lẽ tất nhiên, là những con người, quý thầy cũng có vài cố tật riêng tư, thật riêng tư, không ảnh hưởng gì đến tác phong đạo đức của những bậc "tôn sư".

Về môn thể dục, sau thầy Trước, thì thầy Nhung, thầy Quan, thầy Phát chăm sóc nam học sinh. Thầy Nhung mới mất ở đây. Thầy Phan Văn Quan đang hưởng tuổi trời ở Cali. Thầy Phát thì lâu quá rồi tôi không biết tin. Phía các chị, thì có chị Lưu Hữu Duyên trẻ đẹp ngày xưa, nữ huấn luyện viên thể dục đầu tiên và duy nhứt của trường, nay hạ lạc phương nào?

Bốn năm, nếu không kể mấy tháng "tiền tản cư", tôi được mỗi thầy truyền cho một chút căn bản. Thầy Tài dạy tôi yêu thích Việt văn. Thầy Dõi dạy tôi thưởng thức những nét đặc biệt của văn chương lãng mạn Pháp. Thầy Tuyết dạy tôi cách suy luận chắc chắn cẩn thận qua môn kỹ hà học. Thầy Châu, thầy Liêu dạy tôi sự náo nức kiếm tìm những chân trời xa lạ như vì sao Bételgueuse chẳng hạn! Nhưng ảnh hưởng tôi nhiều nhứt phải nói là thầy Kiết. Tôi nghe danh thầy từ khi thầy còn dạy ở tư thục Nam Hưng, đề xướng phong trào sưu khảo di sản văn chương và trùng tu ngôi mộ của cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghiã ở Bình Thủy trước 1945. Mãi đến năm thứ ba, tôi mới được học với thầy. Thầy dạy tôi rất nhiều! Từ những quyển sách thầy cho tôi mượn để đọc. Từ những quyển sách thầy khuyên tôi mua để học. Những bài Việt văn thầy dạy bao hàm tình yêu quê hương, ý niệm dân tộc, văn hóa và lịch sử Việt Nam. Mỗi tuần chỉ được học với thầy vẻn vẹn có 3 giờ, nhưng thật là 3 giờ đầy đặn, chất chứa! Thật ra, không bao giờ thầy dạy tôi chống Pháp, không bao giờ thầy dạy tôi theo kháng chiến. Nhưng thầy thật sự muốn chúng tôi, các học trò Việt văn của thầy phải biết yêu tiếng Việt, và yêu nước Việt nam đang bị thực dân Pháp tiếp tục xâm chiếm và cai trị. Những điều thầy dạy tôi 2 năm ở Phan Thanh Giản, hoàn toàn phù hợp với câu đầu tiên trong 10 điều tâm niệm của học sinh do thầy Trần Văn Sửu bắt học trò, trong đó có tôi, đọc như kinh nhựt tụng, mỗi lần xếp hàng vào lớp, ở trường tiểu học Ô Môn:
Phải trung thành kính yêu tổ quốc.

Bốn năm được quý thầy rèn luyện cho thành một học sinh có căn bản, un đúc cho một số kiến thức tối thiểu trước khi tiếp tục học trình, trước khi hội nhập vào cuộc đời. Căn bản vững chắc đó, những kiến thức tối thiểu đó, tôi mang theo hành trang của một quân nhân để “phụng sự” hơn 22 năm (1952-1975), sau đó, tôi mang theo hành trang của một người Việt lưu vong cho đến bây giờ. Cho đến ngày nào mà tâm trí tôi còn linh mẫn, chắc chắn tôi không quên những gì thầy Kiết đã khuyên nhủ tôi trong nhiều dịp; chắc chắn tôi còn nhớ vì sao Bételgueuse (do thầy Châu, thầy Liêu chỉ) ở cuối dảy Ngân Hà(?); chắc chắn tôi còn nhớ bLa Besace hay bài Le Lac do thầy Dương Văn Dõi dạy; chắc chắn tôi vẫn nhớ “Théorème de Pythagore do thầy Nguyễn Băng Tuyết giảng; chắc chắn tôi còn nhớ những đoạn luân lý ngắn của thầy Nguyễn Cao Thăng về bổn phận cuả một công dân. Và chắc chắn tôi vẫn nhớ lời nhắn nhủ: Cờ là tiêu biểu của một nước, tượng trưng hồn thiêng sông núi cũng như giọng ngân dài của thầy Trịnh Huy Tiến khi thầy ngâm mấy câu thơ Thế Lữ:
...
Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy
Giam hãm thân trong cảnh nặng nề
Vẫn để hồn theo người lận đận
Vẫn từng trông đếm bước anh đi...



L o n g T u y ề n

Phụ chú: Kỹ niệm hơn 45 năm có nhiều chi tiết thiếu mạch lạc, thiếu chính xác, nhứt là tên của quý thầy,quý anh chị. Nếu có gì sai trật, xin bổ túc hay chỉ dẫn dùm.


17648



Image


n h ậ p .t r ư ờ n g .
N G U Y Ễ N .Đ Ì N H .C H I Ể U.

(Le Myre de Villers, 1950 - 1951)
__________________________________________________________________________



Sau khi đậu bằng Thành Chung (D.E.P.S.I.) hạng bình thứ, tôi liên tục nạp đơn dự thi vào trường Sư Phạm và Trường Võ Bị Ðà Lạt (khóa 3). Ðồng thời cũng nạp đơn thi vào lớp đệ nhị trường trung học Le Myre de Vilers (sau đổi thành trường Nguyễn Ðình Chiểu). Nạp đơn nhiều chỗ lại càng thêm băn khoăn, vì chưa biết cuộc đời của mình sẽ rẻ vào đường định mệnh nào! Cậu Bảy tôi khuyên tôi nên tiếp tục học hành, và đến ngày thi, cậu Bảy tôi dẫn tôi đi Mỹ Tho dự thi tuyển vào lớp Ðệ Nhị trường Nguyễn Ðình Chiểu.

Lần đầu tiên được đi Mỹ Tho, cái gì đối với tôi cũng lạ, nên tha hồ nhìn ngắm. Ði xe đò, qua Bac Cần Thơ, cầu Ba Càng, rồi Bắc Mỹ Thuận, Cai Lậy, cầu Xoài Hột (sau gọi là Long Ðịnh), ngã ba Trung Lương, vào Mỹ Tho. Ngã ba Trung Lương nổi danh vì mận ngọt và bánh quay vạt, mà cũng vì kháng chiến chận đánh đoàn xe nhà binh 70 chiếc có hộ tống (convoi của Pháp) trước đó mấy năm. Trong trận này có hai vị Thầy của trường Trung Học Phan Thanh Giản tử nạn trên chuyến về Cần Thơ sau khi nhận chức: Hiệu trưởng Trương Vĩnh Khánh, Tổng trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục và thầy dạy thể thao Nguyễn Văn Trước, Thứ Trưởng Thanh Niên. Nhờ cậu Bảy tôi dẫn dắc, nên mọi sự đều suông sẻ: từ mua vé xe đò đi về, cho đến mướn phòng ngủ ở bờ sông Mê Kông. Khi có chỗ tạm trú rồi, cậu Bảy tôi dẫn tôi, Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Ðinh Sách đi viếng trường để biết chỗ hầu sáng mai vào phòng thi không bị lụp chụp. Thăm trường xong, về chợ kiếm quán ăn cơm chiều, rồi không dám lang thang thêm. Cậu Bảy tôi dẫn chúng tôi về phòng ngủ.

Phần thì đi xa nhà, phần thì lần đầu tiên ngủ phòng ngủ, lại thêm lo về việc thi cử, tôi thao thức không ngủ được. Khuya vắng, tôi chợt nghe phòng bên cạnh có tiếng đàn bà ú ớ rên rỉ, tôi khều cậu Bảy tôi, hỏi hình như có ai đau bịnh. Cậu Bảy tôi vổ đầu tôi bảo nhỏ: “Con lo nhắm mắt ngủ sớm; mai đi thi. Ðừng lo chuyện thiên hạ.”

Sáng hôm sau, chúng tôi (Nguyễn Ðinh Sách, Nguyễn Thanh Long, tôi) dậy sớm, sửa soạn mọi thứ rồi cùng đi bộ đến trường. Thí sinh đông đảo và nao nức như mọi nơi thi cử khác. Thi hết các môn chỉ một ngày thì xong, Trong khi ở ngoài cổng trường chờ đợi, cậu Bảy tôi hỏi thăm được một chỗ nuôi học trò ăn cơm tháng đi học. Khi chúng tôi thi xong, cậu dẫn chúng tôi đến xem cho biết nơi chốn và giá cả, phòng hờ nếu tôi thi đậu và tiếp tục đi học. Sau đó, cùng nhau đi dọc bờ sông chợ Mỹ Tho xem nếp sống ở đây. Mỹ Tho là thành phố xưa hơn Cần Thơ , và cũng gần Sài Gòn hơn, nên có nhiều nét khác hơn, nhứt là dân Mỹ Tho có vẻ văn minh hơn. Rồi thong thả trở về phòng ngủ, hôm sau về Cần Thơ.

Khoảng nửa tháng sau, có kết quả cuộc thi tuyển. Anh Lê Thanh Liêm đậu hạng nhứt, tôi đậu hạng nhì. Và cũng nhờ có mấy anh qua trước cho hay, nên được biết thêm là anh Liêm và tôi được thầy Nguyễn Văn Kiết chấp nhận cho hai đứa tôi và vài anh khác trong đó có Lâm Võ Hoàng được nhập thẳng vào lớp Première Moderne. Vụ nhảy lớp này, khiến nhiều anh chị em học sinh - khác suy bì. Tôi mừng vì được đậu cao và đở tốn tiền cho một năm học. Cũng nhắc lại một lần nữa, là vì cậu Bảy tôi dẫn tôi đi Mỹ Tho thi, mà chị Gabrielle Phan Ngọc Ẩn (con bác Phan Thông Thảo) cười ngạo tôi hoài. Chị học trước tôi một lớp ở trường Phan Thanh Giản, dù chị nhỏ hơn tôi một tuổi. Chị qua học Mỹ Tho trước tôi một năm cùng một lượt với Nguyễn Văn Loan, Nguyễn Trọng Louis (sau này là Nguyễn Trọng Luật), Từ Văn Bê v.v. Tôi nhảy lớp nên được học cùng khóa với các anh chị này.

Ba má tôi và cậu Bảy tôi đồng ý lo cho tôi tiếp tục đi học. Ba tôi đóng cho tôi một cái rương ván đánh vernis mầu vàng sậm. Vì đã qua Mỹ Tho một lần, nên tôi đi tựu trường một mình sớm hai ngày. Xe đò tới chợ Mỹ Tho thì đã xế chiều. Tôi đi xe xich lô tới chỗ trọ (nhà chị tám Phương) là chỗ cậu Bảy tôi đã dò hỏi hồi đi thi. Vì là nhà trọ - chuyên nuôi học sinh ăn cơm tháng, chị tám Phương sắp xếp chỗ cho tôi ở dễ dàng. Ðã có chỗ trọ, tôi đi thăm thầy Nguyễn Văn Kiết để cám ơn thầy đã nâng đở bằng cách cho tôi nhảy lớp lên thẳng Première, khỏi mất một năm học Seconde. Thầy khen tôi qua loa, rồi cho biết rằng: Liêm được xếp vào lớp A, tôi lớp B.

Sáng thứ hai, là ngày tựu trường. Nhờ biết trước, nên khi vào lớp tôi không bị bỡ ngỡ. Trong một ngày, học sinh chúng tôi được hết quí thầy dạy hai lớp Première A và B.

Vài nét về quý Thầy sau một tuần nhập học:

Thầy Nguyễn Văn Kiết dạy Pháp và Việt văn. Thầy đã dạy chúng tôi hai năm 1948-1950 ở trường Phan Thanh Giản nên tôi khỏi bị khớp.

Thầy Nghĩa (quên họ) có bằng cử nhân Khoa Học (Licence-ès-Sciences) từ Pháp về, dạy Lý Hóa. Thầy thường đội nón casque trắng đi bộ từ nhà đến trường. Thầy đi chậm chậm, chắp tay sau lưng, mấy ngón tay ngoắc ngoắc, như muốn gọi ai. Thầy rất vui tính, vào lớp hay kể chuyện tiếu lâm cho học trò cười. Buổi đầu tiên, Thầy dặn học trò phải mua sách Lý Hóa. Hai hôm sau, trước khi dạy, Thầy xuống mỗi bàn kiểm lại sách của từng đứa. Trò trai chậm mua sách bị Thầy trách quở nặng nề. Trò gái nào chậm hay quên mua thì Thầy rầy: “Sao ba má trò cho tiền mà trò không mua sách. Chắc trò để dành mua bông tòn ten”. Lần đầu tiên, mới nghe thiệt khó mà nhịn cười! Mà đứa nào cười nhiều thì bị Thầy mắng: “Bộ tao là hề diễu hay sao mà mày cười nhiều vậy!” Thầy có mấy cô con gái cũng học chung trường, mỗi ngày đi bộ ngang nhà chúng tôi trọ, mà tụi tui ngán Thầy nên không đứa nào dám hó hé trêu chọc gì cả. Nhà Thầy có vườn rộng nằm bên kia mương lộ dọc đường Phan Hiến Ðạo.

Thầy Phạm Văn Lược dạy Sử & Ðịa. Trông dáng dấp thì biết Thầy thường tập thể dục thể thao. Thầy đi dạy bằng xe đạp. Vào lớp thì Thầy thao thao bất tuyệt không cần sách. Thầy đọc cho chúng tôi chép mỏi tay, vừa xong bài thì vừa hết giờ. Con gái Thầy, chị Phạm Thị Yến là một học trò giỏi cùng lớp Première với tôi.

Thầy dạy Toán là Nguyễn Văn Ất, cử nhân Toán từ Pháp về. Thầy đi chậm chậm, nói rất nhỏ. Tôi hơi lảng tai, phải ráng nghe để chép bài Thầy đọc, nhưng sau giờ học thường phải mượn tập mấy anh bạn để chép thêm những chỗ thiếu vì nghe không kịp. Thầy ít cười, nhưng có hôm Thầy cũng ý nhị kể lại chuyện vui hồi quí vị còn học bên Pháp, về cái máy chụp hình của thầy Kiết. Khi nhắc một anh mê đờn mandoline hơn làm Toán, Thầy chỉ nói: “Mỗi sáng trước khi tới trường, trò phải xem lại bài học thay vì rao nhạc”.

Thầy Trần Bá Vạng là Tổng Giám Thị. Trưởng nam của Thầy là anh Trần Bá Di sau thăng thiếu tướng, một thời làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh đồn trú tại Sa Ðéc.

Giám thị lớp Première chúng tôi là thầy Trần Văn Hồ.

Và trên hết là Hiệu trưởng Hồ Văn Trực (hay Hồ Nguyên Trực) từng dạy Toán lớp Première Année ở trung học Phan Thanh Giản thuyên chuyển sang từ năm 1948 (?).

Tất cả các môn học - trừ Việt văn - đều được quí Thầy giảng dạy bằng tiếng Pháp.

Năm 1988, anh Trương Bảy cho mượn một tấm ảnh lưu niệm chụp trước khi chia tay, chung cho hai lớp A & B khóa 1950-1951. Nhờ nhìn tấm hình này mà tôi còn nhận được: Nguyễn Trọng Louis (sau đổi thành Nguyễn Trọng Luật), Lê Kỳ Chương, Lê Văn Huynh, Trương Hoàng Minh, Tôn Thị Nguyệt, Ðinh Thị Minh Châu (con Thầy Ðinh Căn Nguyên), Nguyễn Ngọc Trinh (nam sinh dù tên nghe như con gái), Nguyễn Thị Bửu, Thái Văn Nguơn, chị Nhạn (quên họ), Trương Bảy, Lê Thị Hạnh, Lê Văn Nhiêu, Phạm Thị Yến (con thầy Phạm Văn Lược), Lâm Võ Hoàng, Gabrielle Phan (Ngọc Ẩn), Hà Hữu Hội, Nguyễn Quang Tri, Huỳnh Văn Thọ, Diệp Trọng Yêm, Nguyễn Văn Bằng, Ðỗ Văn Vạng, Từ Văn Bê, tôi, Ðặng Như Tuyết, Tôn Văn Riteaux, Nguyễn Văn Loan, Huỳnh Văn Tòng, Ngô Văn Huế, Nguyễn Phú Hộ, Lê Văn Hòa, Trương Cao Ðức, Nguyễn Văn Triết, Ðinh Thái Nguyên, Võ Hiếu Nghĩa. Còn các anh Sở, Luân lên đường du học Pháp vào khoảng giữa năm học. Riêng Bùi Quang Khương không biết tại sao không thấy trong ảnh kỷ niệm này.

Vì nhà trọ “chị Phương” vừa đông vừa khá mắc tiền đối với khả năng ba má tôi gởi cho hàng tháng, tôi vừa đi học vưà lắng nghe anh em cùng lớp nói chuyện với nhau về nơi ăn chốn ở. Học xong tuần thứ nhì, thì tôi được biết anh Trương Hoàng Minh ở trọ nhà thầy Trần Văn Hồ, giám thị lớp tôi (surveillant), mà hiện nhà thầy còn chỗ trống. Chủ nhựt đó, tôi lại nhà thầy thì thầy không có ở nhà, tôi chỉ gặp bác gái. Bác gái người cao lớn, ăn trầu, cười toe tét bảo: “Ừ! nhà tao còn chỗ cho hai đứa. Cháu cứ dọn về đây ở mà đi học.” Tôi hỏi bác mỗi tháng tôi phải trả bao nhiêu, thì bác bảo: “Mỗi tháng đưa tao ba trăm. Cơm sáng với chèo quảy, cơm trưa và cơm chiều ba món”. Tôi mừng quá vì giá này thấp hơn đằng chị Phương trăm đồng mỗi tháng. Tôi xin bác cuối tháng dọn lại vì đã đóng trọn tháng cho chị tám Phương. Bác gái cười: “Ðược. Mà cháu ở đó lâu cũng không tốt đâu. Trai gái gần hai chục đứa, chung một nhà lộn xộn, học hành gì được.” Tôi về nói lại với chị tám Phương. Chị cũng vui vẻ bằng lòng, dặn rằng đi đâu thì cứ đi, lâu lâu ghé lại thăm chị. Chủ nhựt cuối tháng, tôi dọn rương áo quần và sách vở về nhà bác Trần Văn Hồ (trong trường thì thưa thầy vì thầy giám thị lớp tôi). Tôi gởi thơ về cho ba má tôi hay, thì ba má tôi rất mừng vì nhẹ bớt được trăm đồng mỗi tháng.

Ngay hôm dọn về đây, tôi gặp Trần Văn Hớn (tám Hớn) ngồi trong hiên mát trước nhà ôm đờn tây ban cầm dượt rỉ rả. Thấy tôi, hắn ngừng tay lại, cười nhe cái răng sún: “Tao biết mày rồi! Mày và thằng Liêm là học trò cưng của cha Kiết.” Hắn rất tự nhiên gằp là mày tao liền. Tôi biết hắn lớn tuổi hơn tôi nên gọi hắn bằng anh. Hắn cự: “Anh cái củ cải, cứ mày tao là khỏe re”. Trong nhà, còn chú chín H.. (cùng tuổi với tôi nhưng chú bị khuyết tật không đi học), chú mười Hưng (con út) và chị bảy Hiền. Chị đi dạy học ở trường trong thị xã. Chồng chị (tụi tui gọi là anh Ba?) làm infirmier trong nhà thương. Chị có hai con nhỏ một trai một gái: thằng Tý (gọi là thằng Chuột) với con Loan (gọi là con Noan) đều do một tay bác gái chăm sóc ẳm bồng. Sau đó, Lê Thanh Liêm cũng bắt được mạch tìm dọn về đây. Mấy tháng sau, lại thêm anh Dương Văn Anh (con của thầy Dương Văn Dỏi) rồi Trần Quang Ðồng (em Trần Quang Khôi & Trần Quang Nghĩa) cũng nhập bọn. Sau này biết thêm anh Trương Hoàng Minh là cháu bác gái. Anh Minh, Liêm, Anh, và tôi bốn đứa học chung Première Moderne. Hớn học lớp Seconde. Ðồng, Hưng lớp thấp hơn.

Buổi ăn lót lòng sáng đầu tiên ở nhà bác Hồ: một chén cơm trắng với hai cái chèo quảy chấm nước tương. Vì chưa quen, nên tôi bị nghẹn và “nức cục” phải uống nước cho nó trôi xuống. Bác gái cười bảo: “Thủng thẳng rồi mày (không gọi là cháu nữa) sẽ quen”. Quả nhiên, sau này, mỗi sáng tôi theo kịp anh Minh và Hớn, ăn mau qua mặt hai công tử: Liêm và Anh.

Trước kia, khi còn ở nhà chị Phương, đi học rất gần: vừa băng qua khỏi chợ là tới trường. Từ hôm dọn về nhà bác Hồ, tôi đi trên đường Phan Hiến Ðạo khoảng 100 thước qua khỏi một cầu đúc nhỏ thì quẹo phải, đi thêm chừng 500 thước trên lộ lớn thì đến cổng trường nằm bên tay mặt. Trên đoạn đường này, tôi còn nhớ hai ngôi nhà đều nằm bên trái khi đi. Một là nhà nuôi cơm tháng cho nữ sinh ở trọ. Ở đây ngoài cô Ðào, con bà chủ còn có mấy cô: Yến, Tiên, Jacqueline. Vài lần tôi đi ngang, tình cờ bà chủ ngồi dưới hiên, kêu lớn: “Ðào ơi! Nó đi học đây nè”. Tôi không biết bà nói ai, nên tỉnh bơ, nhưng tám Hớn và anh Minh thì quay lại dòm tôi mà cười mỉm. Nhà thứ hai là nhà của một gia đình người Việt quốc tịch Pháp, họ quí tộc. Cô con gái rượu của hai ông bà này, tên Caroline de Gonzaga nổi danh mỹ nữ Mỹ Tho thời bấy giờ.

Các lớp đều học mỗi ngày hai buổi. Sáng từ tám giờ đến mười một giờ tan học. Tụi tui về nhà ăn cơm trưa. Hai giờ trở vào lớp học chiều. Khoảng năm giờ lại tan học. Thời gian trống chờ cơm chiều là giờ ghé tiệm sách. Cũng có khi, chúng tôi tựu vào khu vườn hoa trước dinh Chủ Tỉnh, xuống đứng dọc bờ sông xem anh chị em thao dượt bơi lội. Ở đây, có nhiều anh nổi danh về môn này, từng đoạt giải toàn quốc. Thỉnh thoảng, chúng tôi có mặt để ủng hộ chú mười Hưng, con bác Hồ cùng một số trò trai thi nhau lôi qua cù lao Rồng và trở về. Biểu diễn thì có chị em Antoinette và Betty lượn múa trên mặt nước như mỹ nhân ngư. Cũng tại công viên này, một hôm, tôi gặp lại ông Trương Trường Vịnh, cựu chủ tỉnh Cần Thơ đang làm chánh án Mỹ Tho. Ông cũng đến công viên hóng mát. Gặp tôi, ông vui vẻ hỏi: “ Sao? Em còn bãi khóa nữa không?” Tôi đáp: “Thưa, năm nay lo thi, mệt hơn năm bãi khóa ở Cần Thơ nhiều”. Ông gật đầu: “Em ráng học. Lo lập thân trước. Việc nước lo sau.” Từ bấy đến nay, tôi không còn gặp lại vị tỉnh trưởng dễ thương này, không biết ông còn hay mất.

Nếu không đi dạo mát ở bờ sông, chúng tôi về nhà đua nhau tập thể thao; hoặc cùng nhìn ngắm con gái thiên haï qua lại trên đường Phan Hiến Ðạo trước nhà. Có hôm, bác Hồ gái cho chúng tôi một chùm trái dâu. Chúng tôi lột dâu ăn, rồi thi nhau liệng vỏ qua vườn của thầy Nghĩa bên kia mương lộ. Chẳng may, lúc ấy có mấy chị đạp xe chạy ngang qua, đúng lúc hằng chục cái vỏ dâu nối đuôi nhau bay ngang lộ. Mấy chị bị trúng vỏ dâu la oai oái. Một chị (tôi quên tên) ngừng xe lại trách móc. Tụi tui nín thinh không dám hó hé vì biết mình quấy. Chỉ có anh Trương Hoàng Minh mạnh dạn chịu trận đối đáp không nhân nhượng. Có thể vì anh Minh lớn con lại đẹp trai, đang học Première (lớp cao nhứt của trường bấy giờ) hẳn có oai riêng, nên chỉ qua lại chừng chục câu đối đáp, thì mấy chị nguýt xéo anh rồi leo lên xe đạp nối nhau chạy đi; bỏ anh đứng xơ vơ lại đó, mặt sượng trân, có vẻ hơi quê. Tụi tui cười ngất, vừa phục anh Minh, mà cũng sợ bị bác Hồ gái rầy. Quả nhiên, chập sau, bác ra ngồi ghế, tay bồng con Noan, tay xỉa thuốc, vưà cười vưà bảo: “Tụi bây quấy rõ ràng. Người ta là con gái, tụi bây liệng vỏ dâu trúng ngực người ta. Ðau thì chắc không đau; nhưng họ mắc cỡ. Họ chỉ mắng cho mấy câu là may! Tao tưởng họ vô nhà mét tụi bây chọc ghẹo họ, hay vào trường thưa với ổng, thì chiều nay hay mai tụi bây sẽ ổng rầy lớn.” Anh Minh nói: “Cháu đâu có chọc ghẹo gì. Mãng lo đua liệng vỏ dâu, không thấy mấy cổ đi tới nên trúng nhằm mấy cổ. Mà cháu đâu có nhắm ai!”. Bác gái cười: “Phải mà! Tụi bây hiền lắm. Ai đời không nhắm mà liệng trúng ngực người ta?”

Thường vào buổi chiều, tôi được nghe tín hữu công giáo họp nhau cầu nguyện ở nhà hàng xóm. Nhà vách lá, bên kia đọc bên này nghe không sót một câu. Còn một câu tôi nhớ nhập tâm: “Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi mọi đàng”. Phải chờ cho xong phần đọc kinh rồi qúi vị phân tán, chúng tôi mới bắt đầu học bài. Khoảng 10 giờ đêm, tôi sửa soạn giăng mùng trên bộ ngựa gỏ giữa nhà (mỗi sáng cuốn lại xếp cất); bà chủ nhà láng giềng lại cho cô con gái mở máy hát dỉa. Tôi chỉ còn nhớ mang máng những bài quen thuộc như Ðêm Ðông, Chinh Phụ Ca, Kiếp Hoa, 3 bài Hồn Vọng Phu, và đặc biệt bài Thiên Thai do Lê Dinh hát. Có đêm, tôi chỉ nghe chừng hai bài thì ngủ quên luôn, khỏi học bài.

Ngày thường đi học rồi về nhà, chúng tôi không dám đi chơi lang thang. Về sau, quen nước quen cái, thứ bảy chủ nhựt, chúng tôi cũng la cà ra chợ ngang trường. Lâu lâu cũng ghé quán cóc hay tiệm tàu uống một ly xây chừng cho biết mùi cà phê Mỹ Tho xem có gì khác hơn xây chừng Cần Thơ? Sau đó, chúng tôi vào thả bộ xuống tiệm sách ở đầu cầu hay qua luôn chợ Cũ bên kia sông, có bến xe đò đi Gò Công. Dạo quanh phố một vòng rồi lo trở về nhà. Vì mới nhập học một phần, tuy đã học lớp lớn nhưng vẫn sợ bị các Thầy rầy; lại là năm thi, nên không đứa nào dám lơ đảng nhiều. Về nhà tựu nhau học bài. Sau khi học bài xong, đứa nào rảnh, thì tập đờn cho đứa khác hát theo. Trong nhà, có tám Hớn và mười Hưng rành guitare hay đờn cầm nhịp. Anh Minh chuyên mandoline. Hát theo thì có Liêm và tôi. Nhưng quanh đi quẩn lại, tôi chỉ hát tạm được có hai bài Con Ðường Vui và Lục Quân Việt Nam. Gặp bài nào ba nhịp, Tám Hớn vừa đờn đệm vừa châm theo “bùm tách tách” hay “Xách tòn ten” vừa nheo mắt diễn tả, có khi còn khoái chí cười phô răng sún, khiến tụi tui nín không được. Tám Hớn cóp hai chữ “tòn ten” này của thầy Nghĩa Lý Hóa.

Ði học chừng hai tháng, tôi hỏi chị bảy Hiền địa chỉ Ty Tiểu Học vì nghe chị nói rằng trường tiểu học Rạch Miểu (Bến Tre) thuộc tỉnh Mỹ Tho; mà thầy dạy tôi hồi lớp nhứt ở Ô Môn hiện đang là đốc học trường Rạch Miểu. Một chiều về sớm, tôi đến Ty Tiểu Học hỏi thăm thầy Trần Văn Sửu. Khi biết tôi hiện là học sinh trường Trung học Le Myre de Vilers và học trò muốn tìm thăm thầy cũ, thì văn phòng Ty Tiểu Học bớt nghi ngờ. Sau khi tôi khai báo địa chỉ thầy giám thị Trần Văn Hồ là nơi tôi ăn cơm tháng đi học, văn phòng Ty Tiểu Học cho tôi địa chỉ của thầy Sửu hiện cư ngụ trong thị xã Mỹ Tho. Sáng thứ bảy tuần đó, tôi liền tìm đến nhà Thầy; thì chỉ gặp Thiếm ở nhà (một căn phố trên lầu) còn Thầy đi vắng. Lát trưa Thầy mới về. Gặp lại Thầy Thiếm tôi rất mừng; vì Thầy Thiếm đều khỏe mạnh. Thầy Thiếm cũng vui vì có học trò cũ tới thăm. Thầy cũng hay tôi đậu cao và nhập học trường Trung học Le Myre de Vilers. Thầy Thiếm cho tôi ăn cơm trưa và ngủ trưa tại đó đến xế chiều mới cho về.

Vào dịp lễ Giáng sinh, một sáng sớm, tôi mua vé xe đò đi Tân An (năm đó chưa gọi là Long An) thăm anh chị năm Liệp (con bác Ba tôi) đang làm việc tại Tòa Hành Chánh tỉnh này. Ðây là lần đầu tiên tôi đến Tân An và đến một mình. Chừng 10 giờ sáng thì tới nơi. Từ bến xe đò Tân An băng ngang đường một chút, thì tới biệt thự do Tòa Hành Chánh cấp cho gia đình anh cư trú. Tôi có gặp anh chị Năm một lần khi anh chị đưa gia đình tản cư về quê nội là xóm Bà Ðồ khoảng 1943-1944, khi Ðồng Minh dội bom đánh Nhựt Bổn ở Sài Gòn (thật ra chỉ có pháo đài bay B29 của Hoa Kỳ). Khi Pháp trở lại miền Nam, anh nguyên là thơ ký Chánh phủ hạng cao (Sécrétaire du Gouvernement), nên anh hồi cư làm việc sớm. Năm 1950, tôi lên thăm anh ở Tân An thì anh đã thăng chức, nghe những người quen gọi anh là ông Huyện Liệp.

Tôi vào nhà gặp chị Năm và ở đó chơi tới trưa thì anh Năm về tới. Anh hỏi thăm ba má tôi và việc học hành của tôi. Chị Năm cho tôi địa chỉ nhà của anh chị mới mua ở Bàn Cờ cho các con của anh chị đi học các trường trên Sài Gòn (Từ Hòa học Gia Long, Năng, Thân học trường nào tôi không nhớ). Chị căn dặn: “Khi nào có dịp lên Sài Gòn, thì chú tới đó thăm cho biết. Chú biểu xích lô máy đưa chú tới nhà lầu năm từng ở Bàn Cờ thì họ đưa tới dễ dàng.” Xế chiều, anh Năm đã đi làm, tôi từ giả chị Năm ra bến xe đi chuyến chót về Mỹ Tho. Chị Năm nhét vào túi tôi năm chục đồng để dành ăn bánh. Về tới Mỹ Tho kịp ăn cơm chiều. Hôm sau, nhân nói chuyện với anh Xiêm (hàng xóm, chuyên về guitare hawaienne) tôi hỏi thăm tiệm may anh quen biết. Tôi đem số tiền này đặt “sur mesure” một cái quần ống túm bằng tissor màu xám lợt sọc vuôn (thời trang của lứa tôi hồi bấy giờ).

Gần Tết ta, học sinh tụi tui xôn xao, mong cho mau đến ngày bãi trường, được nghỉ gần một tháng. Trước hôm bãi trường chừng một tuần, một buỗi sáng, khi tôi đi ngang lớp Seconde thì Tuyết, cô bạn gái cùng quê cùng xóm Ngã Ba Cầu Bac gọi lại. Lúc học chung ở trung học Phan Thanh Giản nàng lớp 4ème C - tôi lớp 4ème B; cuối năm học 1950, cùng thi đậu vào Seconde trường Le Myre de Vilers. Tuyết bảo tôi chiều hôm đó lại nhà của giáo sư Thông, nơi Tuyết đang ở trọ, vì Tuyết có chuyện muốn nhờ. Mãn lớp học, tôi đến nhà giáo sư Thông được mời ngồi chờ tại phòng khách, và bị nhiều học sinh ở trọ tại đây “ra vào dòm ngó”, bởi chưa bao giờ tôi héo lánh tới nhà này. Khi gặp tôi, Tuyết ngỏ ý muốn về Cần Thơ sớm, vì lớp Seconde chương trình ngắn hơn chương trình lớp Première hai ngày; mà Tuyết không dám đi một mình, vì năm đó đường sá vẫn thường còn nhiều bất trắc xảy ra. Tuyết muốn tôi cùng về cho có banï. Tôi hơi ngán vì nghỉ sớm chắc chắn bị mất bài, nhứt là các bài toán của thầy Ất và Pháp văn của thầy Kiết. Ðành nói rằng: “Tuyết đợi tôi xin phép thầy Kiết, vì Thầy là giáo sư chánh của lớp tôi.” Tuyết làm thinh. Tôi ra về, đi thẳng lại nhà thầy Kiết. Gặp Thầy, tôi xin phép về sớm. Thầy hỏi: “Ba má trò có sao không? Trò về sớm thì mất bài, mà lớp của trò là lớp học để thi. Ba má trò không kêu nhắn, mà trò xin phép tôi về sớm, tại sao vậy?” Tôi ấp úng: “Thưa Thầy! Xin Thầy đừng hỏi, chỉ xin Thầy cho phép em về sớm hai ngày”. Thầy nhìn tôi khá lâu, rồi Thầy cười: “Thôi cũng được! Thầy cho phép trò về sớm hai ngày. Nhưng khi mãn tháng Tết, Thầy muốn trò qua sớm hai ngày để mượn bài của mấy anh ở lại hai ngày chót trước Tết, mà học cho đủ bàøi để đi thi.” Tôi hứa liền. Về đến nhà thì trễ bữa, nhưng bác Hồ gái vẫn chừa cho phần cơm. Trong khi tôi ăn, bác cũng gạn hỏi tại sao tôi đi học về trễ. Anh Minh, Hớn, cũng tò mò, vì tôi thường về theo anh em, rất đúng giờ giấc. Tôi thành thật kể lại tự sự và cũng xin phép bác về sớm hai ngày. Bác cười bảo: “Sao lâu nay, tao không thấy mầy nói gì về con nhỏ nầy, mà bây giờ mày lại theo nó về sớm? Ừ, mày về thì về, nhưng nhớ qua sớm mượn bài của anh Minh học lại, kẻo bị cha Kiết rầy rà”. Anh Minh cười cười không nói gì; tám Hớn đang ngồi kế bên nghe xong, đứng dậy cung tay như đang ôm guitare tay trái bấm hờ cung tưởng tượng, tay mặt giả như búng dây đàn, cười ha hả rồi rao: “Xách tòn ten! Xách tòn ten! Má ơi! Nó mắc câu rồi! Con nhỏ này học chung lớp với con! Ha ha! Cái thằng học gạo mà dám xin cha Kiết nghỉ sớm đưa bạn gái về quê thì khỏi luận! Bùm! Tách! Tách! Hèn chi gần nửa năm nay, nó không hề ngó ngàng gì tới con Ðào xóm dưới kia”. Ngày hôm sau, giờ ra chơi, tôi gặp Tuyết dưới hiên trường, tôi cho hay rằng thầy Kiết đã cho phép tôi nghỉ sớm hai ngày. Tuyết mừng ra mặt. Vụ tôi nghỉ học về sớm hai ngày, nhiều người biết. Anh em nhìn tôi vừa như chế nhạo vừa như ngạc nhiên. Mấy ngày chót, thầy Kiết thường lưu ý tôi phải làm bài này bài khác trước khi đi phép.

Hôm bãi trường, Tuyết và tôi ra xe đò, đi chuyến sáng. Lúc đầu, tôi còn ké né ngồi cạnh Tuyết trên băng. Dọc đường, xe rước khách càng lúc càng đông. Chen chúc hồi lâu, đến khi qua khỏi cầu Long Ðịnh, có bà già trầu lên xe, tôi nhường chỗ cho bà. Rồi tôi đứng với anh lơ xe, tại chỗ lên xuống phía sau, từ cầu Long Ðịnh về tới bac Cần Thơ.

Tháng Tết qua mau. Tôi xin ba má tôi đi sớm hai ngày, sau khi kể lại hết tự sự. Khi ba má tôi bằng lòng, tôi lo đi một mình. Tôi không nhớ Tuyết đi với ai sang Mỹ Tho nhập học. Một đoạn tơ chớm vương nhưng vì nhà nghèo, tôi không dám xao lảng việc học hành. Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn nhớ nét vui tươi cuả thầy Kiết, khi tôi đến thăm và trình diện Thầy đúng hạn. (Học trò ngoan của Thầy mà!) Thầy dặn tôi phải mượn một số bài Pháp văn học lại. Anh Minh dành sẳn cho tôi một lô bài toán của thầy Ất cho làm trong tháng Tết. Tôi làm vừa xong các bài bị thiếu, thì đến ngày nhập học sau Tết. May phước! Vừa vào lớp, thầy Ất gọi tên tôi biểu trình Thầy xem các bài Thầy cho về nhà làm hồi trước Tết. Thầy xem qua thấy các bài đều có đủ. Thầy trả tập lại cho tôi về chỗ, rồi mới bắt đầu giảng và cho chép bài giải. Hú vía! Nếu tôi không lo trước, thì không những tôi bị thầy Ất cằn nhàn (Thầy chỉ cằn nhằn mà không phạt đứa nào suốt năm) mà chắc chắn thầy Kiết cũng rầy tôi; vì hai Thầy thường nói chuyện với nhau về sự học hành chung của mấy chục đứa ở lớp Première.

Thường thường, chúng tôi ngồi dưới hiên mát trước nhà để học bài. Ngồi trong nhìn ra, bên phải là nhà bà hàng xóm công giáo. Bên trái, là nhà của cậu mợ Ba. Tôi kêu cậu mợ Ba vì bắt chước theo tám Hớn và mười Hưng. Tôi thường thấy cậu Ba ra vào hoặc đứng trong sân, còn mợ Ba buôn bán ngoài chợ suốt ngày nên ít khi thấy. Lần lần hơi quen, cậu Ba kêu tôi qua sân trước nhà, chỉ cho tôi coi chậu cá thia thia do cậu nuôi cả trăm con chen chúc dưới đám bèo cám và tai tượng. Tôi cũng thoáng thấy trong nhà có dáng người, đồ chừng là con gái. Nhưng gần một năm trời trọ học ở đây, không bao giờ tôi được nhìn thấy rõ cô này, cho đến khi tôi rời Mỹ Tho. Tám Hớn thường trêu chọc nhiều người quanh xóm, nhưng không hề thấy hắn dám léo hánh qua sân nhà cậu mợ Ba. Sau này qua Mỹ, mấy chục năm sau, khi cùng anh chị Ðinh Văn Tiết, bạn ngành Quân Cụ, nhắc lại chuyện cũ đường Phan Hiến Ðạo, mới hay cô láng giềng nhà trọ năm xưa là hiền nội của anh. Tới bây giờ, tôi vẫn nhớ dáng dấp ngang tàng và nghiêm nghị của cậu Ba, cùng thầm phục việc dạy con gái “khuê môn bất xuất” theo nề nếp xưa của cậu mợ Ba hồi đó.

Có một lần, vào giờ ra chơi, tôi tình cờ đi dưới hiên, qua ngang hai lớp Seconde. Tôi chợt thấy một nữ sinh dựa lan can nói chuyện với hai cô bạn. Bấy giờ, nhìn dáng đứng của chị, tôi mới hiểu rõ chữ attirante (thu hút). Thấy tôi nhìn, chị vẫn giữ nguyên thế “ỷ lan” và nhìn lại, cho đến khi tôi đi qua khỏi chỗ ba cô đang đứng mà không hề để ý đếùn hai cô bạn của chị đang háy nguýt tôi. Sau này tôi còn gặp lại chị Lan này một lần nữa. Khi đang học trong trường Thủ Ðức, tôi là một trong ba người đi họ đàng trai trong đám cưới anh Chế Nguyên Dung. Chú rể Dung, tín đồ công giáo thuần thành; cùng quì trước bàn thờ với cô dâu (là chị Lan) theo nghi thức tế lễ Cao-Ðài.

Vào dịp lễ Phục sinh (Pâques), cả trường đều dự buổi trình diễn văn nghệ. Tôi còn nhớù trong một vỡ kịch, anh Ðặng Như Tuyết lớp tôi giả gái, đẹp lộng lẫy hơn mấy chị lớp Première, xem còn trẻ trung hơn mấy cô ở lớp Seconde! Anh Sở vẻ râu quai nón đen bó càm. Anh Luân đóng vai công tử, ăn mặc bảnh bao đúng mốt 1950: áo veste ca-rô (carreaux), quần ống túm, giày mỏ vịt vàng (bec de canard). Tôi còn nhớ anh Bùi Quang Khương vừa đờn mandoline độc diễn vừa hát mấy câu điệp khúc bài Sài Gòn 50:

Có đến mới thấy Sài Gòn văn minh
Có thấy mới biết Sài Gòn an ninh
Giữa lúc thế giới lăm le khởi ngòi đao binh
Ví đến chẳng thấy Sài Gòn văn minh
Ví thấy chẳng có Sài Gòn an ninh
Cũng phải nhắm mắt tai ngơ kín miệng làm thinh.


Nhân dịp này, tôi còn nghe chị Jeanne hát bài “Thuyền về đâu” (không nhớ tác giả) và bài “Thiên Thai” của Văn Cao. Từ hôm xem văn nghệ của trường, tôi không còn thích nghe bài Thiên Thai hát dỉa bên hàng xóm nữa. Tôi vốn dốt nhạc mà nghe bài này qua máy quay dỉa, tôi nghe như nghệ sĩ hát bằng hơi bụng, Về sau này, tôi còn nghe nhiều người hát bản Thiên Thai, nhưng tôi luôn so sánh với tiếng hát trong vắt của chị Jeanne, cho đến một ngày...

Lễ Phục sinh được nghỉ trọn tuần. Biết chắc rằng thi tú tài II thì phải thi ở Sài Gòn. Section moderne phải thi ở Chasseloup Laubat; nên nhân còn nghỉ lễ, tôi mua giấy xe đò COSARA do anh Xiêm bán giấy hai chuyến đi về, lên Sài Gòn. Một là vì tôi chưa đi Sài Gòn bao giờ, ráng đi cho biết. Hai là dò kiếm nhà anh chị năm Liệp hầu tá túc trong mấy ngày thi. Xe đò COSARA rộng rãi, thoải mái, khác tất cả các xe đò khác như Liên Trung, Hiệp Thành v.v. Theo lời dặn của chị năm Liệp, tôi nói địa chỉ số 69 C, đường Audouit (Ô-đui) cho một ông chạy xe xích lô máy, hỏi giá rồi lên ngồi cho xe chạy đến gần nhà lầu năm từng (duy nhứt ở Sài Gòn hồi thập niên 1950) ở khu Bàn Cờ. Ðịa chỉ 69 Audouit nầy là một dảy phố 5 căn (A,B,C,D,): (A) đôi vợ chồng trẻ không nhớ tên, (B, 2 căn) kỷ sư Thiện, (C) huyện Liệp (của anh năm tôi) và (D) má con cô hai Hòa với vợ chồng cậu ba Trang (sẽ trở lại sau).

Vào nhà, tôi gặp chị ba Hữu là người thay thế anh chị Năm Liệp để nấu cơm và chăm sóc Từ Hòa, Năng, Thân đi học. Hai chú cháu học chung ở trường Ô Môn hồi 1943, bây giờ tôi mới gặp lại Từ Hòa. Trong nhà, chị ba Hữu còn nuôi cơm tháng thêm bốn gái (hai chị em Ninh Phú và hai cô nữa đều là nữ sinh Gia Long), một trai Ðinh Ngọc Ẩn (học trường tư). Sáng hôm sau, tôi đến thăm bác ba tôi đang ở chung với anh chị sáu Tăng tại một căn nhà có gác, gần bên rạp chớp bóng Olympic đường Chasseloup. Biết tôi không có tiền, anh sáu Tăng nhét túi tôi 50 đồng. Với 50 này, tôi theo Năng và Thiệu (con trai anh Sáu Tăng) xem cho biết vài chỗ trong thành phố Sài Gòn Chợ Lớn. Thỉnh thoảng ba chú cháu ghé lại mấy quán quà vặt ở đường Phan Thanh Giản và Lacaze do hai cậu này hướng dẫn, vì cả hai đều rành lắm. Tuy được kêu bằng chú, tôi chỉ hơn Năng một tuổi, hơn Thiệu hai tuổi!

Sau chuyến thăm Sài Gòn về, tôi cắm cúi lo học thi. Hôm bãi trường, trước khi, chúng tôi đi Sài Gòn, bác Hồ gái có làm một bửa cơm đặc biệt đãi 3 cử tử lên đường (Minh, Anh, tôi), riêng Liêm vì lý do đặc biệt đã rời trường sớm mấy tháng! Dịp này, có văn nghệ bỏ túi trong nhà, và bác gái còn cho tụi tui uống bia. Uống được nửa ly, tôi chập choạng vào bếp, tìm bác gái, rồi đứng nghiêm trang trước mặt bác, cảm ơn bác đã lo lắng cho tôi cả năm trời. Không biết tôi đã nói gì với bác, chỉ thấy bác cười cười. Sau giấc ngủ trưa vì nửa ly bia, tôi thức dậy lo sắp chuẩn bị ngày mai đi Sài Gòn. Bấy giờ, bác Hồ gái mới bảo tôi: “Hồi trưa, mày say rượu và mày đã kêu tao bằng chị”. Tôi đành xin lỗi bác vì tôi bị bia hành, nên “tửu nhập ngôn xuất” không kiểm soát được lời nói thành ra thất lễ. Thực ra, tôi biết rõ mình đã uống bia, nên cẩn thận đứng nghiêm và nói chậm từng chữ mà vẫn bị thất thố!!



Rồi tôi lên Sài Gòn dự thi.

Môn yếu nhứt của tôi là bài luận Triết. Làm bài mà chỉ mong qua khỏi mức chặn (barrage). Môn toán thật dễ dàng vừa làm bài vừa phục thầy Ất vô cùng, vì bao nhiêu câu hỏi khó khăn của bài thi đều được Thầy dạy kỹ càng nên kể như trúng tủ. Bài Lý Hóa cũng trơn tru vì cũng nằm trong vòng giảng dạy thấu đáo kèm theo bài tập của thầy Nghĩa. Sau hai ngày thi viết, tôi nằm lì ở nhà anh chị năm Liệp, học ôn lại bài, để nếu may mà lọt qua phần thi viết thì không bị chới với vì thiếu chuẩn bi thi hạch miệng. Khi có kết quả phần thi viết, tôi lần lượt đi qua các môn một cách đầy tin tưởng vì không bị ngọng môn nào. Tôi còn nhớ hai môn quyết định cho riêng tôi ở phần hạch miệng là Pháp văn và Sử Ðịa. Giám khảo Pháp văn (giáo sư Cổ Văn Hai) cho tôi đọc bài “Lorsque l’enfant parait” của Victor Hugo. Tôi đọc gần như thuộc lòng vì bài này thầy Dương Văn Dỏi cho học hồi năm thứ tư ở Trung học Phan Thanh Giản. Sau đó, giám khảo Hai bảo tôi giảng câu: “ Soit que Juin ait verdi mon seuil..”, tôi rút ruột từ bài thầy Dỏi giảng hai năm trước tụng một mạch. Giám khảo Hai lạnh lùng gục gặc đầu rồi cho điểm. Tôi đi sang phòng giáo sư Champion, giám khảo Sử Ðịa. Thấy ông đang quây anh trước tôi, tôi ớn quá vì toàn là những câu hóc búa. Ðến phiên, tôi bốc một đề trong hộp Ðia Dư: Tài nguyên khoáng sản nước Hoa Kỳ (Resources minérales des États-Unis) và một đề trong hộp Sử Ký: Nã phá luân và gia đình (Napoléon et sa famille). Ông hỏi về Ðịa dư Hoa kỳ trước. Chỉ hai câu ngắn thôi, ông ngưng lại cho điểm. Rồi quay qua bảo: “Maintenant, parlez-moi de Napolén et sa famille”. (Bây giờ, hãy nói cho tôi nghe về Nã phá luân và gia đình ông ta). Nhờ thầy Lược đã soạn riêng một bài về gia đình Nã phá luân và dành hai giờ để dạy chúng tôi, và cũng nhờ thích đọc thêm những phụ chú trong sách Pháp trường cho mượn, tôi đi một vòng từ cha mẹ và anh chị em của Nã phá luân, rồi ngừng lại tưởng rằng đã đủ. Nào ngờ ông lại hỏi luôn về chồng của của hai cô Pauline và Caroline. Chưa hết, ông lại hỏi: “Et Désirée?” (Còn Desirée?). Tôi đáp: “Elle n’est pas dans sa famille” (Cô này không thuộc trong gia đình ông ta). Ông lại hỏi: “Qui est-elle? Qui est son mari?” (Cô ấy là ai? Chồng cô ấy là ai?). Tôi ngập ngừng vì ngại miệng: “Elle était son amante. Son mari était le général Bernadotte”. (Cô ta là tình nhân ông ấy. Chồng cô ta là tướng Bernadotte). Ông cười: “Oui! c’est vrai.” (Ờ, đúng vậy), rồi cho điểm, xong ông gọi người kế tiếp. Sau này, học với ông ở năm Maths Élems, tôi thấy ông luôn sang sảng giảng bài và pha trò cười lớn trong lớp.

Thi xong, về nhà trọ nằm chờ ngày đêm lo lắng và suy nghĩ mình sẽ làm gì sao khi có kết quả. Rớt thì tôi phải lo học thi kỳ nhì, sau đó mới tính tiếp theo? Mà đậu thì mừng, nhưng ngay sau đó, lo đi kiếm việc làm hay học thêm một năm nữa? Muốn học thêm thì cha mẹ nghèo, làm sao có tiền? Ba hôm chờ đợi này, cũng là ba hôm theo Năng, Thiệu du hí quanh Sài Gòn: vườn Peugeot, sở Thú, mấy quán ăn đêm trên đường Lacaze, sòng bài Chợ Lớn v.v.

Hay tin có kết quả, chúng tôi tựu vào sân trường khoảng 9 giờ sáng. Trong khi nhốn nháo, mong ngóng, hồi hộp, tôi gặp thầy giáo Hữu dạy ở trường tiểu học Ô Môn thời xưa. Thầy là ba của anh Hải, chị Thu, học trước tôi mấy năm. Tôi không học với thầy, nhưng học chung lớp với con thầy hồi lớp ba lớp nhì tiểu học. Thầy là thầy cũ của cậu Bảy tôi. Gặp Thầy tôi cúi đầu chào (Thầy của cậu mà!), Thầy vổ vai tôi cười cười mà không nói gì . Sau này, tôi được biết: vì không đi Sài Gòn được, cậu Bảy tôi đã viết thơ nhờ Thầy theo dỏi dùm việc tôi thi cử. Thầy đã hưu trí và đang cư trú trong Chợ Lớn. Thầy quen biết nhiều trong hàng giáo chức Việt Pháp Sài Gòn Chợ Lớn, nên có tin tức thi cữ sớm hơn và vào đó kiếm tôi.

Khi vị giám học người Pháp ra công bố danh sách thí sinh theo thứ tự mẫu tự. Gần sau cùng mới nghe đọc tên tôi, có kèm theo Mention “Assez bien” (Hạng Bình thứ). Mừng ơi là mừng! Nhưng không dám về liền, mà nán đợi danh sách được dán trên bảng, tôi dò thấy rõ ràng tên mình, mới dám đạp xe ra nhà giây thép đánh điện tín về Cần Thơ cho ba má tôi hay. Sau đó, tôi giông tuốt về nhà trọ ở Bàn Cờ cho chị ba Hữu và mấy cháu trong nhà biết tin, rồi lập tức ra xe đò chạy về tới Mỹ Tho thì chiều tối. Vừa vào nhà, thì bác Hồ gái chạy ra hỏi: “Sao? Trang?”. Tôi cười: “Con đậu rồi!” Bác gái cũng cười rạng rỡ và nói: “Mừng cho mày và ba má mày.” Tôi gom góp mọi thứ vào rương chuẩn bị mang hết về Cần Thơ nghỉ hai tháng hè. Xong tôi chạy sang nhà thầy Kiết. Vì tôi về trễ nửa ngày, nên Thầy đã biết trước kết quả từ hồi trưa. Thầy hỏi tôi: “Pháp văn của trò chỉ được trung bình, làm sao mà trò lấy được Mention.” Tôi thưa: “Dạ! Em không biết, vì may lắm thì em qua được barrage Pháp văn. Có lẽ giáo sư Cổ văn Hai đã giúp em nhiều qua bài “Lorsque l’enfant parait.”; và giáo sư Champion đã cho điểm em rộng rãi hai môn Sử Ðịa. Còn Toán và Lý Hóa thì em có thể yên tâm đạt điểm cao nhứt vì hai môn em đều làm bài trúng y trót lọt”. Thầy hỏi: “Chừng nào trò về Cần Thơ”. Tôi thưa: “Dạ, mai sáng em ve.à” Thầy dặn: “ Trò chuyển lời tôi thăm bá má trò và trò Nhựt”. Nhựt, em trai kế tôi, là học trò được thầy lưu ý và giúp đở rất nhiều khi thầy dạy ở trường Phan Thanh Giản Cần Thơ, luôn cả sau này khi Nhựt lên học Pétrus Trương Vĩnh Ký.

Về tới Cần Thơ, thì ba má tôi đã biết trước nên lo tổ chức tiệc mừng đãi bà con trong xóm bằng một con heo quay lớn vào hôm sau. Năm đó, học nhảy lớp một năm, thi tú tài I được “bình thứ” là điều đáng mừng. Ba má tôi chịu đựng cho tôi đi học thêm một năm dài không uổng. Trong khi bà con ăn uống, có một em trong xóm đem đưa cho ba tôi một tờ giấy và nói rằng của một người quen gởi tặng. Ba tôi mở ra xem thì thấy có một bài thơ đường tám câu năm vần. Bài thơ này tôi không thuộc vì ba tôi đọc qua rồi cất. Sau khi ba tôi mất năm 1965, rồi đến trận hồng thủy 1975, cả gia đình tôi bị mất nhiều thứ, huống hồ một bài thơ “mừng con thi đậu” của một người trên trước gởi tặng ba tôi!



L o n g T u y ề n
10 giờ 25 sáng ngày 05 tháng 11 năm 2004



21991



Image


n ă m .h ọ c .t r ư ờ n g.......
C H A S S E L O U P - L A U B A T

..........( 1 9 5 1 - 1 9 5 2 ) .
__________________________________________________________________________



Thi đậu Tú tài I Section Moderne, tôi phấn khởi nạp đơn vào trường Chasseluop-Laubat xin theo học Ban Mathématiques Élémentaires (gọi tắt là Maths Elems) và được trường thâu nhận dễ dàng. Tôi chuẩn bị lên Sài Gòn, tiếp tục học thêm một năm nữa, hi vọng hoàn tất được phần II.

Sau khi liên lạc bằng thơ với anh chị năm Liệp và được chấp nhận cho ở trọ để đi học, tôi mang rương và sách vỡ lên gặp chị ba Hữu (cô cậu anh năm Liệp) ở nhà số 69 C đường Audouit (sau này đổi thành Cao Thắng) mặt tiền xóm Bàn Cờ. Ðịa chỉ 69 Audouit nầy là một dảy phố 5 căn đánh số A,B,C,D: A của một đôi vợ chồng trẻ không nhớ tên, B gồm 2 căn liền của bác ba Thiện, C của anh chị Năm tôi và D của một bà quả phụ lớn tuổi không biết tên.

Nhà anh chị Năm tôi là một căn phố khá rộng bề ngang chừng 6 thước. Bề sâu khá dài được chia thành, 4 phòng từ cửa bước vào:
- trước tiên là phòng khách và phòng học ban ngày, trở thành phòng ngủ ban đêm cho 4 cậu trai: Ðinh Ngọc Ẩn, Năng, Thân và tôi. Chừa một lối đi bề ngang chừng 2 thước dọc theo bàn học, khoảng trống còn lại chia cho bốn đứa tôi kê bốn cái ghế bố xếp. Sau 10 giờ tối, thì giăng 4 ghế ra cắm cọc giăng mùng. Ðứa nào học thêm thì cứ để đèn, những đứa nằm trong mùng mở sách đọc thêm, cho đến 11 giờ đêm là bắt buộc tắt đèn.
- kế đến là phòng của các cô; Ninh, Phú, Lan, Từ Hòa. Cũng chừa lối đi 2 thước, nhưng các cô thì được có mùng giăng sẳn sáng cuốn lên chiều buông xuống. Ðèn điện cũng như phòng trước, có điều quý cô thì được có đèn chong ban đêm (an toàn hành lang đó mà!).
- tiếp theo là sân tương lộ thiên chiếm một phần tư; ba phần tư còn lại là bàn ăn cơm chung, phòng tắm và phòng vệ sinh
- sau cùng là là nhà bếp; đấy cũng là giang sơn riêng của chị ba Hữu và cậu con trai tên Ðầy 6, 7 tuổi gì đó.

Ngày khai trường ở Chasseloup-Laubat đại để cũng giống những ngày khai trường khác. Nhưng chỉ một ngày đầu thì tôi biết là tôi bị đọa, vì tôi không nghe được trọïn lời giảng của các giáo sư người Pháp. Từ trước đến nay dù các thầy tôi dạy chúng tôi toàn bằng tiếng Pháp, nhưng quí Thầy vẫn nói chậm, cốt cho chúng tôi nghe được mà học nhập tâm. Nay nghe các giáo sư người Pháp nói “nhanh như gió” lại còn nuốt chữ không ngần ngại, khiến tôi theo dỏi đến ngất ngư. Tuy nhiên, trong một ngày, tôi lần lượt được biết: GS Guillemet dạy Toán, Thầy Champion dạy Sử Ðịa, Bà (?) dạy Sciences (Physique, Chimie, Biologie), Thầy Béliard dạy Việt văn, Thầy Bụng bự Francois dạy Philosophie.

Bạn học cùng lớp cũng nhiều, nhưng vì học chung có một năm rồi chia tay nhau từ 1952 đến nay, tôi không còn nhớ nhiều mà cũng không còn hình ảnh (mất rất nhiều trong cơn hồng thủy 1975). Cố moi trong ký ức thì còn lại được mấy tên: Nguyễn Long Hòa, Mạc Kỉnh Trung, Nguyễn Nguyên, Trần Ngọc Diện, Bùi Mộng Hùng, Nguyễn Tường Hùng (Tôi có hỏi thì anh cho biết anh là cháu gọi nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam bằng bác) với hai nữ đồng khóa: Chị Huỳnh Thị Kiều Nga và chị Kim Ngôn.

Ở nhà, chiều chiều thỉnh thoảng có mấy người bạn đến chơi: như anh Dự (bà con với Từ Hòa); Nguyễn Tấn Bộ, Nguyễn Văn Hảo - sau này là tiến sĩ Hảo - (bạn của Năng); Nguyễn Thành Lang, Hamin, đôi uyên ương Lý Thị Trung Việt và Trường (bạn học cùng lớp với Từ Hòa). Do dó, tôi được quen biết thêm mấy người này. Riêng Trung Việt thì đến chơi với Từ Hòa rất thường; đặc điểm của cô này là hay khóc. Khóc dễ dàng rồi nín liền sau đó, khi bị chúng tôi chọc cô cười để cô ngưng khóc.

Bên đám bạn trai, Nguyễn Thành Lang tới chơi đều đặn nhứt, vì Lang ái mộ cô Ninh trong nhà. Lang chỉ ái mộ một chiều thôi bởi không bao giờ thấy hai người nói chuyện với nhau sau khi chào hỏi xã giao! Ðể có thể ngồi lại lâu, Lang quay ra nói chuyện với tôi. Chúng tôi bàn với nhau lang thang đủ thứ: thi thơ, triết lý, học hành. Lang và tôi thân nhau từ đó.

Riêng với Hamim thì có vài kỷ niệm. Hamim rất giỏi Việt văn, từng đoạt giải nhứt về môn này. Mới đây, Từ Hòa nhắc lại: Ðêm cháy lớn khu Bàn Cờ năm 1951, có chị Năm tôi từ Tân An lên thăm. Chị chưa từng gặp Hamim. Khi cháy, cả nhà lo dọn bớt đồ đạc qua bên kia đường lộ, phòng ngừa lửa cháy lan. Bổng thấy Hamim chạy tới áp vào tiếp tay phụ dọn với chúng tôi. Chị Năm không biết mặt Hamim nên la: “Sao ai lạ hoắc mà bưng đồ đạc vậy?” Hamim bị quê, lui lại đứng với bọn tôi. Khi Từ Hòa hay được, Từ Hòa bèn xin lỗi Hamim. Một lần khác, có dịp sinh hoạt văn nghệ, Hamim nấu một nồi cà ri lớn mang lên đãi anh chị em. Ăn vào, ai cũng khen ngon vì cà ri Chà cay đúng chữ. Năm 1975, vào trại tị nạn ở Fort Chaffee, Arkansas, Hamim và tôi còn gặp lại nhau ở đây mấy lần, trước khi Hamim hướng dẫn một số đồng bào đi định cư ở một khu doanh trại bỏ trống do quân đội Hoa Kỳ đóng cửa chuyển quân.

Một hôm, nhằm chủ nhựt, tôi đang ngồi ở bàn học, lọ đảng ngó mông ra lộ Audouit, thì có một cô gái khá đẹp tới cửa rào, nhìn vào rồi đứng lại. Tôi nghĩ là bạn của cô Ninh hay của Từ Hòa, vội ra mở cửa mời khách. Quả nhiên, cô cho biết cô muốn gặp Từ Hòa. Tôi nói: “Hòa có ở nhà. Mời cô vào.” Nhưng cô ngẫm nghĩ một chút, rồi chào tôi quày quả trở ra hướng về phía nhà lầu năm từng. Tôi vào nhà cho Từ Hòa hay có bạn tới thăm. Từ Hòa ra kiếm nhưng cô ấy đi mất rồi, mà Từ Hòa thì tỉnh bơ, không thấy thì thôi cũng bỏ qua. Hôm sau, khi đi học về, Từ Hòa cho biết rằng cô bạn tên Phúc, học chung lớp với Từ Hòa ở Gia Long, muốn vào thăm Từ Hòa, nhưng thấy chú dữ quá nên sợ không dám vào. Tôi dành cười trừ, tự biết mình xấu trai, bản mặt của mình vốn có nhiều nét “cô hồn”, khiến cô ấy không dám vào nhà là phải. Về sau, khi có bạn gái của Từ Hòa lại, nếu không phải là Trung Việt, thì tôi kêu chị ba Hữu ra mời các cô vào, hay nhận tin nhắn nếu Từ Hòa vắng mặt.

Mỗi ngày hai buổi sáng chiều đạp xe đi học. Tối học xong, có khi học chưa xong, tôi thường theo Năng hay Thiệu hoặc Ẩn đạp xe lên đường Hiền vương ăn chè đậu. Tiền túi còn lại chẳng bao nhiêu thì dành dụm để xem ciné có phụ diễn văn nghệ ở các rạp Thanh Bình, Olympic, Việt Long v.v. Nhờ đó, mà tôi được nhìn Huỳnh Anh đánh trống, quái kiệt Trần Văn Trạch hài hước qua bài “Ôi! Cái đồng hồ”, Túy Hoa ăn mặc như nữ kỵ sĩ (nón jockey, giày ống cao, roi da) hát bài “Người kỵ mã trong sương chiều”. Nhưng tôi thường theo dỏi rạp nào có ban Thăng Long (Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung lâu lâu có cả Khánh Ngọc) thì rủ nhau đi xem cho được. Tôi thích bài Ô Mê Ly do toàn ban trình diễn, và mê nhứt bài Thiên Thai do Thái Thanh đơn ca. Nghe Thái Thanh hát bản này rồi, từ đó, tôi không còn muốn nghe ai hát bài này nữa, dù sau này tôi còn nhiều dịp thưởng thức nhiều nghệ sĩ trình diễn văn nghệ. Tiếc thay! Tiếng hát vượt thời gian lại không vượt nỗi không gian để thoát khỏi cơn hồng thủy 1975, đành ở lại chịu nạn. Nghe nói rằng khi còn kẹt lại ở Việt Nam, thỉnh thoảng Thái Thanh “chỉ hát riêng ở nhà cho thân hữu nghe mà thôi”, cho đến mãi sau này ... mới sang đến Cali.

Nhân vụ đi xem hát bóng, tôi nhớ thập niên 1950, Gene Kelly đang ăn khách sau phim “Ba chàng ngự lâm pháo thủ”. Chúng tôi có xem một phim trong đó Kelly hát bài “NINA”. Tôi không còn nhớ lời chỉ còn nhớ Năng, Ẩn và tôi cứ ra vào bắt chước nhái giọng Gene Kelly “Nina, Nina”. Căn nhà thứ hai hàng xóm bên phải là nhà bác Thiện. Ở đó, ngoài anh Nhứt bạn của Năng rất giỏi về tây ban cầm, còn có cô Nina và cô út Ánh Nga. Thấy mấy đứa tôi cứ tối ngày lải nhải Nina Nina, chị ba Hữu rầy: “Tụi bây vô duyên! Tối ngày cứ gọi Nina, Nina. Bộ tụi bây không biết bên nhà anh chị ba Thiện có con Nina hay sao mà kêu tên con gái người ta hoài vậy? ”. Tụi tui hết hồn, nhứt là tôi, vì tuy nhỏ tuổi nhưng bị kêu là chú, nếu bị mắng vốn là “cầm đầu cho tụi nhỏ phá khuấy hàng xóm” thì phiền lắm. Anh chị Năm tôi tuy tánh tình dễ dải nhưng rất nghiêm nghị đối với con cái em út trong nhà.

Một kỷ niệm vui về bà hàng xóm bên trái nhà anh chị Năm tôi. Bà khá lớn tuổi, có hai người con: cô hai Hòa và cậu ba Trang (cũng tên như chú cháu tôi bên nhà này). Cô hai Hòa, độc thân, là nữ hộ sanh, cậu Trang có vợ. Dảy phố năm căn cất chung kiểu sân tương lộ thiên. Chỉ cách nhau có một tấm vách gạch cao chừng hai thước rưởi. Dù không thấy nhau nhưng bên này nói gì bên kia nghe đủ. Theo Từ Hòa kể lại vì tôi chỉ ở đó có một năm nên không rõ đầu đuôi. Chừng bốn giờ khuya, bà cụ đã thức dậy bắt đầu chuông mỏ tụng kinh. Nhờ đó, các học trò bên này dù siêng năng hay biếng nhác, đều nghe biết là giờ phải dậy học bài, sắp sửa đi học. Tụng kinh xong, bà cụ xuống bếp, và bắt đầu màn hành hạ chưởi mắng cô dâu từ sáng sớm. Mới đây, Từ Hòa cho biết khi Năng nghe bà cụ chưởi mắng và đánh đập con dâu dữ quá, thì ở bên này Năng dùng chiếc đủa khỏ lên sọ dừa nghe như tiếng mỏ và bắt chước ê a tụng rằng: Cọp hùm sư tử thấy tu... Thằn lằn rắn mối mà tu bao giờ.

Bà nghe được giận lắm, nhưng không làm gì, chỉ chờ cho đến hôm chị Năm tôi từ Tân An lên thăm con, bà cụ tìm qua mắng vốn về việc Năng chọc phá. Chị Năm tôi, vốn hiền hậu, không muốn mích lòng xóm riềng, rầy và cấm Năng không được làm như vậy nữa. Dù sao, suốt năm tôi ở đó, không thấy Năng khỏ sọ dừa, mà thỉnh thoảng lại nghe bếp bên cạnh nhà lớn tiếng chửi mắng và chị ba Hữu thì cứ lắc đầu than thở.

Trong nhà các cô ở trọ bắt chước Từ Hòa kêu tôi bằng “chú Trang”, khác hơn các cậu bạn trai như Lang, Hamim, Trường, Ẩn, Bộ đều gọi tôi bằng anh. Các cô này cũng khá tò mò. Một hôm, Hoa (bạn học của Nhựt em tôi) có việc từ Cần Thơ lên Sài Gòn. Hoa ghé lại nhà trọ giao một chùm nem chua của má tôi gởi cho tôi. Tôi không có ở nhà, khi đi học về nghe các cô xì xào, rồi nhìn tôi cười cười. Sau đó ít lâu, má tôi lại nhờ Tuyết (bạn học của tôi) ghé đem quà cho tôi. Chị ba Hữu nhận quà cả hai lần và cho tôi biết cả ba cô Ninh , Phú, Lan đều ra “dòm cả hai cô gái ghé đem quà cho chú Trang”.

Tết năm đó tôi về Cần Thơ nghỉ phép. Một hôm, đi ngang Tòa Án, tình cờ gặp Sáu trên hè phố ngay trước phòng mạch của bác sĩ Thuấn. Năm 1950, Sáu học 4 ème C, tôi học 4 ème B ở Phan Thanh Giản. Năm 1952, Sáu đang học ở Marie Curie cũng về nghỉ bãi trường Tết. Hôm đó, Sáu mặt áo dài trắng đi giày cao gót, dáng dấp yểu điệu thướt tha. Gặp nhau, Sáu dừng lại và đưa tay cho tôi bắt. Nam sinh trường Chasseloup bắt tay nữ sinh trường Marie Curie có thể là chuyện thường thấy trên Sài Gòn. Nhưng ở Cần Thơ năm đó, trai gái bắt tay giữa đường, không phải là chuyện xảy ra hằng ngày. Cô gái Việt Nam mặc áo dài đã dám đưa tay “bonjour”, không câu nệ phong tục “nam nữ thọ thọ bất thân”, không ngại sự phê phán của bà con đang qua lại đông đảo; thì là trai, tôi cũng đã có đủ can đảm tối thiểu để đưa tay đón nhận bàn tay ân cần của cô bạn học cũ dạn dĩ như đầm đó.

Trong năm học này, tôi có nhiều dịp ngồi nghe Lữ Vĩnh Nhơn trầm trồ về Sáu, mỗi khi hắn “đi chầu” ở nhà Sáu trọ học đường Champagne trở về, ghé lại thăm tôi ở khu Bàn Cờ. Nhơn là em của Lữ Vĩnh Phước, bạn cùng lớp 4 ème B Phan Thanh Giản với tôi. Do đó, hắn biết tôi cũng học chung với Sáu ở Cần Thơ, nên hắn muốn hỏi dò tin tức. Tôi lặng yên nghe hắn tán rộng mà cười cười không nói gì, mặc cho hắn trút bầu tâm sự đầy ắp hình bóng của Sáu mà hắn đang ngưỡng mộ và theo đuổi. Có hôm, hắn rủ tôi đạp xe đạp ngang biệt thự nơi Sáu ở trọ đi học trên đường Champagne. Từ ngoài lộ nhìn vào, tôi thấy Sáu ngồi đong đưa trên balancoire (xích đu) dưới bóng cây. Nhơn lập tức ghé lại, đẩy xe vào sân nói chuyện với Sáu. Tôi tiếp tục đạp xe đi thẳng.

Trong năm học 1951-1952 ở Chasseloup, tôi còn gặp Sáu hai lần nữa.

Lần kế đó, tôi đang đứng trước tiệm sách Khai Trí gần nhà thuốc tây ở góc đường Bonard (sau này là đường Lê Lợi) chợ Bến Thành, thì thoáng thấy Sáu và hai cô bạn mặc đầm đi tới. Tôi tự xét phận mình nghèo nàn, đang ăn mặc lôi thôi, không dám đèo bòng, chào hỏi chỉ thêm vấn vương, lại ngại sẽ chuốc thêm tủi thân vô ích. Dù vẫn nhớ cái bắt tay hôm trước Tết ở Cần Thơ, tôi làm như chăm chú lật mấy cuốn sách, chờ cho Sáu và 2 cô bạn qua khỏi chỗ vtôi đang đứng. Nhưng chờ khá lâu mà chưa biết ba cô qua khỏi chỗ đó hay chưa, thì Nhựt, em trai tôi, khều vai cho tôi hay là Sáu đang đứng sau lưng tôi từ lâu. Tôi quay lại khẻ ngã đầu chào, Sáu tươi cười chào lại. Rồi đường ai nấy đi.

Lần sau cùng, khi nhận được giấy trình diện làm thủ tục trình diện nhập Thủ Ðức, tôi đang buồn vì thi rớt, Những ngày đó, tôi và Nguyễn Thanh Long hay đạp xe đi chơi trên lang thang các đường quen thuộc, vì lờ mờ nghĩ rằng nay mai không còn nhiều dịp rảnh rang như vậy nữa! Một buổi trưa, khi qua khu bùng binh đường Duy Tân (sau này ông Thiệu cho xây con quy trong bùng binh để trang trí hay trấn yểm gì đó), Long và tôi thấy có một tai nạn xe cộ nhỏ xảy ra. Vì hiếu kỳ mà cũng dư thì giờ, hai đứa tôi ghé lại đứng xem. Tôi đang nhìn hai người đụng xe cải cọ, thì Long cho biết có người đang đứng sau lưng. Quay lại thấy Sáu mặc đầm cùng bạn đứng nhìn tôi mỉm cười. Tâm trạng tôi bấy giờ rất bẽ bàng, vì đang mặc cảm xấu hổ “vừa thi rớt, sắp nhập quân trường nghĩa là đành thôi học!” Tự biết thân phận nghèo nàn, cũng không có tương lai trước mặt, tôi đâu dám mơ mộng cao xa. Ðành chỉ chào nhau như trai Chasseloup, gái Marie Curie rôi gật đầu từ giả. Ba lần gặp mặt, một lần bắt tay, hai lần chào hỏi, có cũng như không. Ba đoạn tơ trời thoáng vương trong một năm, chỉ còn là kỷ niệm mong manh của thời còn “cắp sách đến trường”! Sau này, còn một bức thơ có phúc đáp trong khi tôi lâm bệnh nằm một tháng trong quân y viện Fontainebleau và Val-de-Grâce bên Pháp. Từ bấy không tin tức cho đến năm 1998 (36 năm sau) tôi mới gặp lại Sáu trong bầu không khí tưng bừng vui vẻ ở Ðại Hội Cựu Học Sinh Phan Thanh Giản & Ðoàn Thị Ðiểm ở Toronto.

Năm học 1951-1952 ở Chasseloup Laubat không mang lại niềm vui mà ba má tôi ao ước. Cũng là lần đầu tiên tôi thất bại về thi cử. Có thể vì Sài Gòn đối với tôi năm đó có nhiều điều mới lạ, nên tôi hay theo bạn bè đạp xe đi xem cho biết như: vườn Peugeot trên đường Chasseloup Laubat gần dinh Norodom; Sở Thú và Bảo tàng viện ở cuối đường Norodom trên bờ sông Thị Nghè; sòng bạc Kim Chung trong Chợ Lớn. Chỉ đi coi cho biết thôi cũng mất nhiều thì giờ. Tiền túi tuy không được bao nhiêu cũng chia ra gởi một phần vào xe nước mía các nơi vừa thăm viếng và xe chè đậu trên đường Hiền vương gần Phú Nhuận; phần còn lại thì chui hết vào mấy rạp xi nê có phụ diễn văn nghệ (nhứt là nghe Thái Thanh hát).

Ngay trong nhà, tôi cũng bị phân thần. Mỗi lần đùa với chị làNinh hay bạn là Lan, cô Phú cho đôi tròng mắt đứng sững giả làm người lé, thì tôi đều chú ý nhìn theo. Mỗi lần Phú xưng “trẩm” gọi “khanh”; thì dù lảng tai, tôi cũng lắng nghe xem nàng muốn kêu ai ?

Bạn học cùng lớp, khi bắt đầu quen nhau, mỗi tuần vài tối tôi học Toán chung với Nguyễn Long Hòa. Thứ bảy, chủ nhưtï thì học chung với Nguyễn Hữu Bôi. Những bài thiếu khi nghỉ phép thì tôi hỏi nhờ Mạc Kỉnh Trung. Nhưng tôi tự biết là tôi khó thành đạt vì học hành không thấu triệt chương trình, mà mơ mộng quá nhiều.

Học như vậy cho đến giữa năm, thì tôi ho ra máu. Tôi sợ lắm không dám cho ba má tôi hay, vì như thế chỉ gây lo lắng thêm cho ba má tôi mà không thay đổi được gì! Ba má tôi không có phương tiện để lo cho tôi nhiều hơn nữa! Tôi chờ chị Năm tôi từ Tân An lên thăm Từ Hòa, Năng và Thân. Tôi nhờ chị Năm đưa tôi đi bác sĩ quen chụp hình phổi. Chị Năm sẳn sàng bỏ công việc để dẫn tôi đến phòng mạch (bác sĩ Nguyên thì phải) khám bịnh. Bác sĩ cho rọi quang tuyến X xong cho biết kết quả liền tại chỗ. Theo bác sĩ tuy tôi ho ra máu, nhưng không thấy phổi bị nám. Chị Năm tôi cười vui mà tôi cũng mừng vì thoát nạn. Bác sĩ cho toa mua thuốc bổ. Chị Năm tôi dẫn tôi đi mua thuốc và dặn đừng thức đêm nhiều. Chị săn sóc tôi như săn sóc các con của chị. Mãi đến năm 1989, khi gặp được chị ở nhà Năng trên Pennsylvania, tôi có thưa với chị rằng: “Tình nghĩa của Chị dành cho em thật nặng. Danh thì gọi là chị, nhưng tình như Meï”. Chị cười: “Chú nói trước mặt rể dâu con cháu của chị nhứ vậy; nghe mà mát ruột”.

Sau khi đi khám bác sĩ, tôi bớt đi chơi Sài Gòn Chợ Lớn bằng xe đạp, mà ở nhà dưỡng sức lo học. Nhưng trong thâm tâm, tôi không tin tưởng nhiều vào kết quả thi cử cuối năm. Vì trong lớp tôi chỉ được xếp vào hạng trên trung bình. Chỉ trên trung bình thì đi thi làm sao chắc đậu được! Hi vọng thật mong manh!

Quả nhiên, mùa hè năm đó, tôi dự thi hai khóa, trợt vỏ chuối cả hai lần. Uổng công ba má tôi chịu cực khổ cả năm trời! Bao nhiêu hi vọng của ba má tôi và của tôi “thành mây khói”. Kế đến, tôi nhận được giấy động viên! Vừa bị hạ đài trên trường thi, tôi đi trình diện U.A.R. No.1 (Unité Administrative Régionale No. 1) nằm trong khu trường Tiểu học Tân Ðịnh ngày 11 tháng 9 năm 1952, làm thủ tục nhập ngũ rồi chờ ngày leo lên xe nhà binh... đi Tăng Nhơn Phú (Thủ Ðức). Bước chân học sinh vừa chấm dứt, bước chân làm lính đã khởi đầu.



L o n g T u y ề n
ngày 16 tháng 12 năm 2004



22522



Image


x ó m .C á i .K h ế .- .C ầ u .B a c
__________________________________________________________________________



Dù đã vào trung học Phan Thanh Giản, nhưng tôi rất nhớ má tôi và hai em tôi Ðiểm và Tường, nên lâu lâu, sáng thứ bảy tôi lại leo lên xe đò về Ô Môn thăm một buổi, sáng chủ nhựt lại trở xuống Cần Thơ đi học. Ði xe đò tốn hao mà còn nguy hiểm, vì mỗi sáng xe thiết giáp của lính Pháp phải mở đường rồi mới cho xe đò chạy. Dù vậy thỉnh thoảng vẫn có những cây dầu hay cây sao cổ thọ bị đốn hạ trong đêm chận nẻo giao thông.

Vì muốn cho tôi yên tâm học hành, mà cũng tránh bớt tốn hao, nhứt là những nguy hiểm cho tôi dọc đường Cần Thơ-Ô Môn qua những chuyến xe đò đi về thường xuyên, ba má tôi quyết định dời hết gia đình xuống Cần Thơ cho gọn.

Cuối tháng 10 năm 1946, tôi thôi trọ ở nhà cậu ba Mẹt (thơ ký trong trường, nhà ở xóm ông cả Ðài cạnh bờ hồ do xáng múc), dọn về căn nhà lá nhỏ ba má tôi mới dựng lên tại khu ngoại ô, mà bà con thường quen gọi là “Xóm Ngã Ba Cầu Bac”.


Xóm Nhà Tôi

Nhà tôi quay mặt về hướng Tây, nhìn ra lộ cái đi Long Xuyên. Xóm tôi ở là xóm nghèo ngoại ô. Sáu bảy cái nhà mà chỉ có một ngôi bằng gạch. Ðối diện nhà tôi, bên kia lộ là “nhà hơi điện” (trạm biến điện theo danh từ bây giờ). Cạnh nhà hơi là một hãng sửa xe từ trước tản cư (1945). Khi tôi biết thì cũng còn sửa chữa vài chiếc xe đò, nhưng mấy năm liền không khá phải dẹp đi. Không biết khi xây cất nhà thầu hay thợ thầy sơ xuất ra sao mà một hôm giữa trưa, nghe một cái ầm, tôi chạy ra thì thấy bên kia lộ cái bụi mịt mù, tưởng là nhà bị mìn. Chừng nghe tiếng người lớn la hét, tiếng trẻ em kêu khóc, bà con trong xóm chạy sang thì mới thấy rõ nguyên ngôi nhà rộng lớn vách gạch mái ngói bị sập nhốt nhiều người ở dưới. Có một em nhỏ bị kẹt trong đống gạch gần một ngày mới lôi ra được, nhưng em không hề hấn gì cả. Sau khi quét dọn đống “xà bần”, cái nền xưởng để trống, còn có dãy chái sau hè cho một gia đình trú ngụ mà thôi.

Vài chuyện khó quên đã xảy ra trong xóm này. Trước hết là vụ Việt cộng đặt mìn phá nhà hơi điện. Mìn nổ nhưng nhà hơi không hư hao gì, chỉ có xóm là chịu nạn: lính Tây lên bố ráp bắt bớ điều tra cả tuần nhưng không giam giữ đánh đập ai. Kế đó là vụ Việt Minh cướp súng của lính canh trong đồn nằm cạnh lộ, xế nhà tôi chừng 15, 20 thước. Nguyên đó là một bãi cát không có nhà mà chỉ có 2, 3 cây dừa và một hàng chừng 7, 8 cây đào lộn hột. Thường vụ Pháp của 6ème C.M.R.M. cho đem hàng ngàn bao tải nhỏ, bắt lính Miên lính Việt xúc cát đổ đầy buộc miệng đem về đắp ụ phòng thủ quanh đồn. Bãi cát đang bằng phẳng trở thành một khu lỏm chỏm nhiều ao vũng. Ðơn vị Pháp lập một đồn canh trên bãi cát này cách ngã ba chừng 30 thước để kiểm xe cộ và bộ hành qua lại trong ngày. Một cái cản làm bằng một cây tre gai nguyên nằm chắn ngang lộ, mọi xe cộ đều phải ngừng lại để lính kiểm soát xong xuôi mới giở cản cho xe vào thị xã. Kiểm soát các xe vào Cần Thơ gắt gao hơn lục lọi các xe rời thành phố. Người đi bộ cũng phải trình giấy thông hành hay căn cước. Chuyện lính canh kiểm soát với những lỉnh kỉnh làm khó dễ các xe đò xe hàng, chận bắt những hành khách khả nghi, nhứt là phụ nữ v.v... khiến dân chúng phải “ráng chịu cho quen”. Cho đến một hôm, vào khoảng xế chiều, (tôi đi học lúc một giờ thì vụ này chưa xảy ra) có một cô gái vào đồn chuyện trò thân thiện với lính canh, bỗng có người từ những hố cát xông vào đồn, giựt súng rồi cùng cô gái đó chạy luôn vào trong khu ruộng hoang, lẩn mất vào trong khu nhiều cây bên kia bờ lộ. Anh lính mất súng chạy bộ về 6ème C.M.R.M. báo cáo. Chốc sau, cả đoàn lính Pháp Việt túa lên vây hết khu xóm, đánh đập nhiều người. Hôm đó ba tôi nằm nhà vì đang lên cơn sốt rét, nên bị nạn lây. Không phân nếp tẻ gì ráo, lính Tây đánh ba tôi bể sống mũi, cho đến chết vết thẹo vẫn còn. Tôi đi học về, thấy áo quần ba tôi vấy máu, mà không dám đi nhà thương, vì sợ luôn đám lính Tây trong đó. Cả xóm bàn tán muốn dọn nhà dời đi, thì có một vị “quan hai” từ 6ème CMRM đến, nhờ tôi thông dịch (tiếng Pháp của học trò 2ème Année đó) rằng đơn vị ông không ra lệnh lính đánh đập dân chúng trong xóm; rằng người Pháp văn minh, không phải loại dã man (nguyên văn: Nous sommes des civilisés, mais pas des sauvages); rằng sẽ không có những sự đánh đập vô lối như vậy về sau; rằng những tên lính thô bạo đã bị thượng cấp trách phạt; rằng mọi người trong xóm yên tâm ở lại không cần phải dời đi đâu hết v.v...

Tạm yên được ít lâu, lại xảy ra vụ Việt Minh bắn Cộng Hòa Vệ Binh và giựt súng vào buổi sáng khoảng 9:00 giờ. Toán CHVB mãn phiên gác sáng rời kho xăng của thầy ba Thân về đơn vị. Cả toán 6, 7 người cùng đi bộ mang tòn ten mùng mền súng ống. (Tôi cũng đi học chiều về nghe kể lại). Thoạt nghe súng nổ người la, lộn xộn một hồi. Khi yên lặng trở lại, thì thấy ba vệ binh nằm thẳng cẳng, phải gọi xe Hồng Thập Tự chở đi (về sau biết thêm là chết 2 còn 1). Quả nhiên lần này, không có ruồng bố đánh đập ai cả; mà chỉ có rất nhiều người “civil” đến la cà trong xóm cả tháng, sau đó thì có mấy người bị bắt đưa ra tòa về tội đồng lỏa với Việt Minh trong vụ cướp súng giết vệ binh.


Ngã Ba Cầu Bac và Cây Xăng Bác Hai Ðịnh

Ngã ba cầu bac là mối giao thông giữa các tỉnh Hậu Giang, nhứt là các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Sài Gòn. Một số xe đò từ Hà Tiên, Rạch Giá hay Châu Ðốc Long Xuyên cũng theo ngã này, đón hành khách dọc đường, thay vì qua bac Vàm Cống thâu ngắn lộ trình gần 50 cây số. Trục lộ Cần Thơ Long Xuyên đến đây, có ngã tẻ về phiá đông ra cầu bac. Thời 1946-1960, giữa ngã ba là một bồn binh rộng hình tròn, đường kính chừng 30 thước. Bồn binh trồng cỏ, có cột đèn với nhiều bóng điện chùm soi sáng. Tuy vậy, về đêm vẫn vắng vẻ, vì ai cũng ngại ra khỏi nhà, khi nghe tiếng còi “thiết quân luật” từ nhà bưu điện vang lên hồi 6 giờ chiều, áp dụng chung cho cả thị xã tuân theo. Khi lên tôi lên năm thứ hai (2ème Année), ba tôi ráp cái sườn cũ thành chiếc xe đạp dành riêng cho tôi đi học. Mỗi chiều trước giờ giới nghiêm, anh hai Xén (con trưởng của cô Chín tôi) dẫn tôi ra tập đạp quanh bồn binh này. Cùng thời gian này, cậu sáu Nhâm ở nhà cạnh nhà tôi cũng tập cô con gái đi xe đạp. Khi thì hai xe chạy một chiều, khi thì hai đứa đạp ngược chiều. Có một lần, vì đạp ngược chiều mà tay lái chưa rành; hai xe đụng nhau, hai đứa té đùn cục với nhau ngã lăn ra bờ cỏ. Cậu sáu (ba Tuyết) và anh hai Xén cười ngất chạy tới lo đở xe lên mặc kệ hai đứa lồm cồm bò dậy. Tuyết đỏ mặt nín thinh lo vuốt lại áo quần không hờn giận mà cũng không trách móc, còn tôi thì ngượng ngùng đứng xớ rớ tại chỗ, không biết mở lời xin lỗi. Rồi hai đứa lại xẻn lẻn trở ra tiếp tục tập đạp xe, nhưng tôi cố tránh xa ra, không dám cho xe lại gần, sợ té nhào như vậy nữa thì kỳ quá. Năm đó tôi 16 tuổi tây, Tuyết khoảng 14, 15 gì đó. Nhà kế bên hè, ra vào luôn thấy nhau, nhưng tuyệt nhiên không ai nhìn ai, không nói với nhau một lời. Tôi không dám hát bài “Cô láng giềng” đang rất thịnh hành hồi đó. Cho đến khi Tuyết lấy chồng thì tôi còn đi học và lang thang đuổi những sợi tơ vàng mong manh vương nắng, hoặc tưởng mình là một trong những chòm “mây bốn phương trời”.

Then chốt tại ngã ba cầu Bac (chữ này không có dấu vì nó là chữ Pháp thông dụng, có chỗ chuyển âm gọi là phà) là trạm bán xăng lẻ của bác hai Ðịnh. Bao nhiêu xe đò đi Ô Môn, Thốt Nốt, Long Xuyên, Châu Ðốc thường phải ghé đổ xăng tại trạm này. Theo bác kể lại thì xe nào có tiền trả liền cũng tốt, không sẵn thì bác cho thiếu chịu, trả sau cũng được. Vì vậy mà bác hai có một số khách hàng đông đảo và trung thành. Cây xăng của bác hai Ðịnh nuôi sống một số người quanh xóm. Hồi đó, chưa có xe bồn, nên tàu chở xăng giao trong những thùng 200 lít. Kho xăng mướn thêm người tiếp lăn những thùng xăng từ tàu lên kho, xếp thành hàng thành khu thứ tự. Rồi xăng lần hồi được chuyển từ kho ra trạm bán lẻ của bác Hai. Những hôm thức sớm khoảng 5 giờ sáng, tôi được nghe tiếng thùng xăng lăn đều đều kêu “linh kinh lình kình” trên đường lộ, vì khoảng thời gian này không có nhiều xe chạy. Mỗi người một thùng, lăn bằng hai tay, từ kho xăng về trạm khoảng 300 thước. Ai lăn mau, thì được nhiều chuyến, lãnh tiền công nhiều hơn. Ðây là một sinh hoạt hằng ngày, mà cũng là một nét độc đáo của xóm ngã ba cầu Bac trong thập niên 1945 -1955.


Khu Quân Sự

Khỏi cây xăng của bác hai Ðịnh là khu vực quân sự. Quân đội Pháp gọi đơn vị này là 6ème C.M.R.M. (6ème Compagnie Moyenne de Réparation du Matériel). Dân chúng gọi nôm na là “Sít Dèm Cà Rem”. Ðơn vị này chiếm hết các kho xưởng (thời tiền chiến) của hãng sửa xe Citroen và vài biệt thự tư nhân cho đến đường vào lò heo phía Ðông và giáp phố sá của chợ Cái Khế phía Tây. Cuối năm 1945, khi trở lại Cần Thơ, quân đội Pháp tuyển mộ một số thanh niên vào làm lính, đồng thời cũng thuê một số nhơn viên dân chính vào làm thơ ký hay thợ sửa xe sửa súng v.v... Khi mới tuyển vào thì không có nhiều vấn đề, nhưng ít lâu sau có vài người lính và nhơn viên dân chính bị bắt đưa đi điều tra, vì khi sửa xe đã đổ đường cát vào thùng xăng và bỏ vài mảnh gỗ nhỏ vào máy (động cơ) khi ráp lại. Sở dĩ tôi biết việc này vì anh Nên ở chung với bác chín Chầu cạnh nhà tôi bị bắt giam ít lâu cùng một lượt với nhiều người khác. Công an liên bang trong tỉnh Cần Thơ (do cò tây Jacquemert nói tiếng Việt rất rành điều khiển) khép họ vào tội phá hoại đưa ra Tòa kết án giam tù. Bác chín Chầu có đi hầu Toà làm chứng, về kể lại cho trong xóm nghe.

Sau lưng đơn vị Quân Cụ Pháp là ụ tàu của đồn điền Cờ Ðỏ (Société Agricole de l'Ouest). Ðồn điền Cờ Ðỏ do người Pháp (họ éméry thì phải) khai thác, rộng hàng vạn mẫu. Họ có nhà máy xay lúa riêng và nhiều ghe chài cùng tàu kéo, để chuyển vận gạo từ Hậu Giang lên Chợ Lớn. Mỗi lần chuẩn bị đoàn tàu kéo ghe chài đi Chợ Lớn quan trọng, thì có lực lượng võ trang (thủy quân = Flotte fluviale) của Pháp hộ tống. Vì sở hữu nhiều ghe và tàu sở hữu, nên họ cất xưởng sửa chữa riêng ở Cần Thơ. Ðây là một cơ xưởng khá quy mô, mướn nhiều nhơn công đủ loại. Từ ụ tàu thường vang lên những tiếng động rất quen tai trong xóm. Ðó là tiếng búa đóng đinh đập gỗ khi sửa ghe; và vui tai hơn là những tiếng loong coong đều đặn, khi hàng chục người thi nhau gõ cho hết sét trên thân tàu trước khi sơn lại. Tiếng kim khí khua vang dồn dập hay dịu bớt đi, cho biết thời khắc gần đúng trong ngày. Nhơn viên của ụ tàu có khi lên tới 60, 70 người khi có nhiều ghe tàu vào xưởng.

Cũng sau lưng đơn vị quân cụ và kế cận ụ tàu là công xi heo (công ty). Lò heo này cung cấp thịt tươi cho chợ Cần Thơ và Cái Khế. Không biết việc sát sanh trong lò như thế nào, nhưng biết chắc chắn có sự kiểm soát của vị thú y trong tỉnh là ông Hiển (ba của mấy chị Anh Tuyết, Ánh Tuyết, Quý Tuyết). Có một lần tôi đi trên khúc lộ trước phố gần đại đội quân cụ, thấy một con trâu cui bứt đứt niệt (dây xỏ mũi) máu ròng ròng, rượt theo một người từ trong lò heo chạy ra. Con trâu vừa đuổi vừa húc sau lưng nạn nhân, nhưng may thay nhờ người này lo “sải” trối chết, thoát hiểm được mấy lần. Con trâu nổi điên quay ra rượt nhiều người khác trên đường, gây náo loạn. Tôi cũng chạy núp vào trong tiệm hớt tóc ngang lộ và sau đó thấy lính mang súng ra bắn quÿ con trâu cho xe chở vào trả cho công xi.

Hai ngôi biệt thự nằm hai bên đường dẫn vào lò heo bị quân đội Pháp trưng dụng sát nhập vào đại đội mãi sau 1950 mới hoàn lại cho sở hữu chủ (một vị là kỹ sư Bích). Kế hai biệt thự này là một toà công sở (gọi là nhà việc). Sau toà nhà này là một đình thờ thần, nhưng cũng bị chia một phần hiên ngoài làm văn phòng của hộ, do ông hộ Ða cáng đáng rất lâu cho đến khi ông về hưu. Một con lộ nhỏ tráng nhựa dẫn từ lộ cái ra bờ sông xép, ngăn đôi nhà việc và đình thần một bên (phía Bắc); bên kia là sân chợ, ngôi nhà lồng, một nhà gạch lớn trước kia dùng chứa xe (garage) sau làm nhà ở (gia đình Dư Thanh Nhựt cư ngụ tại đây một thời gian) và trường tiểu học. Trường này dạy tới lớp ba, do thầy cô Lê Hữu Nghĩa đảm trách (thầy cô đều là giáo chức, ba má của các anh Lê Hữu Thạnh, Lê Hữu Nhơn, Lê Hữu Tuấn v.v...), ngoài ra còn có thầy ốc (là ba của anh Lê Bá Diêu) cũng dạy rất lâu tại trường này.

Bên kia lộ, là phố xá buôn bán, tiệm chạp phô, tiệm cà phê, tiệm thuốc bắc, tiệm may, v.v... Ðặc biệt ở đầu dãy phố ngay mang cá cầu, là tư gia của thầy cô Ðỗ Văn Của (năm đó thầy làm giám thị trung học Phan Thanh Giản, cô dạy trường nữ tiểu học). Mặt tiền nhà thầy là tiệm chụp hình “Mỹ Ánh”. Các hình chụp nhơn dịp tổ chức lễ truy điệu trò Ơn được treo rất lâu trước tiệm ảnh của thầy.



L o n g T u y ề n
ngày 01 tháng 02 năm 1998



23793



Image


k ỷ .n i ệ m .Q u â n .T r ư ờ n g
..........(30/09/1952 - 01/04/1953) .
__________________________________________________________________________



Sau khi thi hỏng Tú Tài toàn phần Ban Toán khóa hè 1952, tôi trở về Mỹ Tho, liên lạc với thầy Tiếu để xin dạy học. Nguyên là thủ quỹ của trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu mới hưu trí, thầy đã hợp tác với quý thầy cùng cảnh ngộ (về hưu nhưng vẫn còn nhiều luyến lưu với ngành giáo dục, đồng thời cũng cốt tạo thêm lợi tức, vì phần đông giáo chức đều nghèo), mở một trường trung học tư hầu giúp đở học sinh khỏi bị trở ngại, sau khi bị loại ở cuộc thi vào đệ thất hay première année trường công. Thầy Tiếu nhận cho tôi vào dạy lớp đệ thất môn Sử Ðiạ và Toán. Tôi cũng không nhớ nỗi tên trường này, duy còn nhớ là học sinh cũng đông lắm mà em nào cũng vui vẻ mừng rở vì còn tiếp tục được đi học, khỏi bị dở dang như đàn anh mấy năm trước đó, rớt đệ thất hay première année thì đành bỏ học đi kiếm việc làm để sống.

Tôi lục lại mấy chồng sách cũ, lôi mấy quyển tập chép những bài học 6 năm trước, tụng lại gần như nguyên văn bằng tiếng Pháp (theo ý thầy Tiếu, hiệu trưởng của trường muốn vậy). Tội nghiệp mấy em, vừa chân ướt chân ráo rời tiểu học, nơi các em được dạy dỗ toàn bằng tiếng Việt. Tôi nói tiếng Pháp khoảng 10 phút, gần hết nửa bài, toàn chuyện trên trời dưới dất, ở phần nhập đề môn Ðiạ Dư. Vì hiệu trưởng dặn nên tôi nói tiếng Pháp, nhưng tôi vẫn nhìn nét mặt cuả các em, tôi biết là không ổn. Tôi ngưng lại hỏi mấy em có hiểu đoạn tôi vừa nói. Có em đưa tay: thưa thầy, thầy nói mau quá, em nghe không kịp. Tôi rất hiểu mấy em và thương mấy em vô cùng. Vì năm xưa, 1946, khi mới tản cư về thành, trở lại trường, đầu tiên gặp thầy Liêu vào giờ Ðiạ Dư, thầy dẫn chúng tôi theo thầy từ điạ cầu lên mặt trời, rồi lên sao Bételgueuse v..v.. Hồi đó,tôi cũng bị ngợp hơi như mấy em trong lớp học hồi đầu tháng 9 năm 1952 tại trường trung học tư tân lập này.

Tôi hứa với các em rằng tôi sẽ nói lại rất chậm rãi và bài học sẽ có phần dịch ra tiếng Việt (nghề của chàng). Các em rất mừng và tôi viết bài lên bảng đen cho mấy em chép lại. Giờ Sử Ðiạ đã trở thành hứng thú vì các em có bài chữ Pháp được kèm bản dịch chữ Việt. Mục đích cuả thầy Tiếu là các em an lòng theo dõi các bài giảng, không vì sinh ngữ Pháp mà chán nản, bỏ học, gây thiệt hại cho trường.

Tưởng rằng tạm yên thân ít lâu, để vừa đi dạy vừa học lại hầu thi phần 2 Ban Toán vào năm sau. Nhưng chỉ dạy được 3 tuần thì tôi được giấy gọi nhập ngũ, phải trình diện tại U.A.R. No.1 ở trường tiểu học Phú Nhuận. Tôi chẳng còn nhớ rõ thủ tục ra làm sao, đã phải trải qua mấy "ải văn phòng". Chỉ còn giấy tờ ghi lại rằng tôi được xếp loại "service sédentaire" sau buổi khám sức khoẻ ngày 11 tháng 9 năm 1952. Duy còn nhớ là được về nhà ba ngày sắp xếp hành lý rồi trở lại trình diện cũng tại U.A.R. No.1. Vì đã chấp nhận trước số phận, không có phương tiện đi ngoại quốc để được tiếp tục học hành, thì chỉ còn một đường: nhập trường sĩ quan trừ bị như mấy anh bạn của tôi trước đấy một năm theo khoá 1 Thủ Ðức (1951), như các anh Trần Văn Trọng, Trương Bảy, Tôn Văn Ðồng, Tôn Văn Xuân v.v... Do đó, tôi không thấy lo lắng, hay buồn nản vì biết rõ rằng không đi sớm thì cũng đi muộn vậy thôi. Tôi về Mỹ Tho gặp thầy Tiếu để cho thầy hay rằng tôi phải nhập ngũ, xin thầy lo tìm người thay thế. Thầy rất thông hiểu và cũng lo âu vì thầy cũng có cậu con trai (tên Hà thì phải) vào lứa tuổi động viên sau đó một hay hai năm? Thầy trả lương cho tôi trọn ba tuần dạy học để tôi có "tiền bỏ túi" nhập ngũ. Tất cả, những gì không cần thiết, không thể mang theo được, tôi giao lại cho đứa em trai đang học ở trường Nguyễn Ðình Chiểu, sau này mang về Cần Thơ dùm tôi. Tiền túi tôi mang theo rất ít, phần còn lại tôi để cho đứa em đang cần trả tiền trọ học. Dặn dò em trai, giã từ gia đình thầy Phan Văn Hồ. Rồi một bao vải xách tay, tôi lên Sài Gòn, đến ở nhà cuả người anh con bác ở đường Audouit (sau này là Cao Thắng) ngủ một đêm. Ở đây có Nguyễn Hiền Năng, cháu gọi tôi bằng chú nhưng chỉ nhỏ hơn tôi một tuổi, cũng đang trong tình trạng chờ đợi giấy gọi !! Dù không lo lắng, không buồn nản, nhưng tôi cũng có nhiều băn khoăn cuả một học sinh vừa rời trường, đi dạy học có ba tuần. Cuộc đời còn nhiều ao ước bâng khuâng, còn nhiều dự định tiếp tục học hành, và cũng còn nhiều mơ mộng về mấy tà áo bay thướt tha trên những nẻo đường từ nhà đến trường ở Cần Thơ, và ở ngay trong nhà trọ năm học 1951-1952 đường Audouit. Tôi thao thức cả đêm với bao nhiêu tư lự ngổn ngang. Nhưng rồi đêm dài mấy cũng trôi qua!! 9 giờ sáng hôm 30 tháng 9 năm 1952, tôi có mặt tại U.A.R. No.1 (Unité Administrative Régionale No.1 tức Ðơn vị hành chánh địa phương số 1) làm thủ tục giấy tờ, chờ xe nhà binh đến chở nhóm "E.O.R." đưa lên Tăng Nhơn Phú. Trong khi chờ đợi, tôi lướt nhìn những người "cùng cảnh ngộ". Vài anh đã có vợ con, đứa còn ẳm, đứa lửng chửng biết đi. Vài anh có mẹ cha đưa đến đó và ở chờ cho con lên xe, nấn ná chưa chiụ về. Vài anh có bạn gái hoặc vợ trẻ "đẹp như thơ", còn bịn rịn. Tôi nhớ hai câu thơ cũ trong một bài học thuộc lòng (Quốc Văn Giáo Khoa Thư):
thùng thùng trống đánh ngũ liên
bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa!


Ở đây không có trống ngũ liên, mà chỉ có những ồn ào của một khu quân sự nằm lọt giửa khu chợ buá đông dân cư gần Tân Ðịnh. Ở đây, tuy không có nước mắt như mưa của những "lính thú đời xưa", nhưng có nét mặt dàu dàu của những anh em đang còn "bận bịu thê nhi", có vài chiếc khăn lau vội những hạt lệ khôn cầm trên má của đôi người vợ trẻ.

Gần 11 giờ, một trung sĩ ra điểm danh từng người, cho đứng xếp hàng dài, rồi cứ 24 anh lên một xe, loại GMC thời đó, mui vải, băng dài hai bên. Ðếm tới đếm lui một lúc, thì đoàn xe gồm ba chiếc bắt đầu di chuyển. Tôi được ngồi gần phiá sau, nên còn nhìn thấy xe rời sân U.A.R. No.1, chạy dọc đường Phú Nhuận, rẽ đường Hiền Vương (Mayer cũ?), sang Gia Ðịnh, qua cầu Bình Lợi, lên Thủ Ðức. Mỗi đoạn đường đều có một chút gì nhắc nhở thời còn lẻo đẻo xe đạp đi học ỡ Chasseloup-Laubat. Ðường Hiền Vương có 6,7 xe bán đủ loại chè đậu, bạch quả, "sâm bổ lượng". Có đêm học ngưng học bài khoảng 10 rưởi, đạp xe từ Audouit lên đây để ăn một ly chè cho "khoẻ". Chè tuy ngọt nhưng vẫn không ngọt bằng lời mời có kèm theo nụ cười của mấy cô bán chè! Tỉnh lÿ Gia Ðịnh rộng hẹp bao nhiêu không biết, chỉ biết có lấn chen rất nhiều trong sáng mồng một Tết quanh lăng Tả Quân, mất cả buổi chỉ cốt nhìn một "người đẹp không hề quen biết" mỉm cười! Ðạp xe qua cầu Bình Lợi thì không thú vị bao nhiêu, nhưng chỉ vì thích đạp theo sau một chiếc xe đạp khác mà người đạp xe phiá trước có mái tóc đen dài "theo dáng dấp thuôn thuôn"! Và Thủ Ðức! những quán nem ở nhà lồng chợ! với rất nhiều "chuyện đời xưa" đã từng nghe kể lại quanh suối Xuân Trường!!

Ðoàn xe GMC đến chợ Thủ Ðức thì rẻ phải lên dốc qua khu vườn cao su. Từ trong khu "rừng" này vọng ra những tiếng súng nổ lai rai, sau này mới biết đấy là sân tập bắn, mà chúng tôi sẽ phải trở lại đấy nhiều lần. Một lúc sau, thì đoàn xe đến cổng trường, ngừng vài phút nhưng chẳng ai mua được gì, mặc dù bắt đầu khát nước và có nhiều người đi quanh xe rao bán quà vặt. Ðoàn xe vào cổng, rẻ phải, đưa chúng tôi khoảng 70 người vào khu tạm trú. Khu này gồm ba dãy trại lá, ở cạnh trại gia đình binh sĩ (sau này gọi tắt là trại gia binh). Nghe đâu, năm trước (1951) mấy anh em khoá 1 đều ở trại này.

Tôi không còn nhớ rõ trưa hôm đó chúng tôi đã ăn uống như thế nào. Mà chỉ còn nhớ là trưa hôm đó, không ai dám nằm xuống ghế bố vì nóng quá. Nhà lợp lá, vách che rất sơ sài, mà hôm đó lại nắng gắt. Ngồi trên ghế bố còn bị nóng, làm sao nằm được. Chỉ vì chưa qua cầu "đoạn trường", nên ai nấy còn ngần ngại. Sau này, thì chỉ mong được có chỗ để nằm, không nề hà nóng bức chi cả.

Khoảng 2 giờ chiều, thì tập họp để đi lãnh quân trang. Kho quân trang nằm ở từng dưới cuả toà nhà chánh cuả trường. Từng trên là Bộ Chỉ Huy, có văn phòng cuả thiếu tá Bouillet. Không biết từng trên thơm tho như thế nào, chứ từng dưới này, nhứt là kho quân trang có cái mùi quần áo cũ rất khó thở, đối với mũi "thư sinh". Trước hết, mỗi người lãnh một cái "bị hải quân" (sac marin) dầy như da trâu màu xám. Câu hỏi đầu tiên trong đời lính cuả tôi là: mình đi trên bộ sao lại phải xài bị cuả hải quân? Hay là nghiệp dĩ phải gặp nó, dù mình ở trên cạn. (Vì cuối năm 1951, tôi có nộp đơn xin thi vào trường sĩ quan hải quân Brest ở Pháp vì có ước vọng được đi vòng quanh thế giới trên chiến hạm (croiseur) Jeanne d'Arc. Khoá tuyển có 12 thí sinh, chánh chủ khảo là thiếu tá Dương Văn Minh, trình độ bài thi cho cỡ Maths Géné nhưng 12 thí sinh cùng đang học Maths élems. Kỹ niệm vui là 12 đứa cùng nhau làm bài toán, nhưng chẳng ăn thua gì. Ðến bài dịch Anh Văn thì chủ khảo Minh là người giỏi nhứt, rút cuộc chẳng đứa nào đậu vào khóa Brest năm đó). Nê cái bị hải quân, rồi theo thứ tự hàng một, lần lượt mỗi người lãnh các món cần thiết cho một quân nhân: 1 bộ nón sắt, 2 bộ áo quần treillis (quân phục tác chiến), 2 bộ áo quần dài kaki, hai bộ áo quần ngắn kaki, một calot (mũ bánh xếp), một đôi giầy đinh (brodequins), một đôi ghệt (guêtres), giây nịt (thắt lưng), giầy da thấp cỗ, cà vạt kaki, một bàn chải đánh giày, một hộp mỡ đánh giày, một hộp cirage đen loại xấu, một đuôi chồn cước, v..v..Tất cả các thứ nặng nhẹ, to nhỏ, cứng mềm đều tộng chung vào cái "bị hải quân" đó. Xong rồi mạnh ai nấy vác, từ ngôi nhà chánh về trại lá. Ði bộ dưới nắng khoảng một ngàn 500 thước, còn đèo thêm cái bị đầy các món lỉnh kỉnh, nặng gần 20 kí, nên phải nghỉ hai ba lần cho khỏi hụt hơi, mới về đến trại lá. Trong chúng tôi, có vài anh em đã là công chức, đã có một mức sống cao hơn trung bình, mỗi việc đã quen có kẻ hầu người hạ (theo lời anh em kể lại ) nên khi bị "cực khổ" như vậy, anh em bèn chê "đời lính" là thế này thế kia, có anh đã chưởi toáng lên dù rằng chỉ chưởi khơi khơi cho đở tức vậy thôi!

Chiều hôm đó, chúng tôi được dẫn đi ăn cơm ở "phạn xá". Ừ, thì phạn là cơm, nhưng có bao nhiêu thứ cơm!! Thứ cơm mà chúng tôi ăn từ chiều đó là cơm lính. Tôi xuất thân từ con nhà nông, lúc đi học còn cơ cực, nên thứ cơm lính này cũng "hợp". Hơn nữa vì phải cỏng cái bị hải quân hồi xế chiều thành ra đói bụng, nên tôi "thời" một hơi ba chén đầy, các món ăn khác ngon dở đều là phụ thuộc. Vài anh em khác không quen, hay chưa quen, hoặc còn nhiều tiền trong túi, lại biết câu lạc bộ cũng không xa xắc gì, nên quý vị này chê cơm lính kéo nhau lên câu lạc bộ "dùng bữa" trên đó.

Từ phạn xá về trại lá khoảng hơn 2 cây số, vừa đủ thời giờ cho chúng tôi tà tà vưa đi vừa ngắm phong cảnh trên đồi. Trời đã chạng vạng nhá nhem, không khí trên đồi mát hẳn. Con đường vào làng chưa đóng cổng hai đầu, nên còn một hai chiếc xe thổ mộ về chuyến chót trong ngày. Tiếng vó ngựa gỏ lóc cóc trên con đường, xuôi dốc rồi hun hút xuyên thẳng vào rặng cao su dầy đặc chạy dọc dãy đồi bên kia. Vài thoáng sương vương trên rặng lau dưới trủng, quanh co theo lạch nước. Phiá này là thôn dã, tịch mịch khi "hoàng hôn xuống" nhưng những người đã từng tưỏng mình là lữ khách lại không đi, mà đành ở lại đây! ổ lại đây, vì giới hạn tự do của trường là các đồn canh dưới dốc đồi, là các "lô cốt" đúc bằng béton hai từng chung quanh có rào kẻm gai cọc sắt. Nhìn về xuôi, ở phiá Nam, có ánh sáng bầng lên, cận kề thì ước chừng là Thủ Ðức. Xa dưới kia, cả một vòm trời rực rỡ, ước chừng đó là Sài Gòn, mà mình mới rời khỏi hồi ban mai đây. Tính đường chim bay, chỉ có 15 cây số! Nhưng tính từ các đồn canh, các "lô cốt" với hàng rào kẻm gai quanh trường, thì cách trở muôn trùng. Chiến tranh chưa lan đến quanh đồi Tăng Nhơn Phú, nhưng chúng tôi vào trường thụ huấn, là chuẩn bị tham dự chiến tranh đang vào thời gay go ở miền Bắc?

Vừa đi vừa nghĩ miên man, tôi về đến trại lá khoảng 30, 40 phút sau đó. Tôi sắp xếp qua loa chung quanh ghế bố, rồi cùng anh em đi gặp vị sĩ quan sẽ chỉ huy chúng tôi trong giai đoạn sơ khởi hai tháng nhập môn ở trường.

Thiếu uý Ðổ Trọng Thuần tiếp anh em chúng tôi dưới ánh đèn điện tù mù treo lủng lẳng trên trần nhà. Cuộc tiếp xúc sơ khởi này, còn được dùng tiếng Việt, nhưng bắt đầu từ sáng mai, thì bắt buộc phải nói tiếng Pháp. Sau khi chúng tôi tự giới thiệu tên họ, năm sinh, gia cảnh, v.v... Thiếu uý Thuần cũng tự giới thiệu qua loa thân thế, nhờ đó mà chúng tôi được biết người tốt nghiệp khoá 3 Ðà Lạt. Nghe mấy tiếng "khoá 3 Ðà Lạt", tôi lại miên man nhớ một áng mơ không thành, một chút duyên không nợ với khóa 3 này. Số là giữa năm 1950, sau khi đậu bằng thành chung, tôi không có tiền tiếp tục theo học ban tú tài, mà cũng chẳng tìm được việc làm, sau mùa bãi khoá theo vụ trò Ơn, nên đánh liều nạp đơn và được trưòng Võ Bị Ðà Lạt gởi thơ nhận nhập học khóa 3 mà khỏi qua kỳ thi tuyển. Nhưng vì có người cậu thương tình cho tiền cho đi học thêm, tôi lại không lên Đà Lạt trình diện nhập trường. Tôi thi vào lớp đệ nhị (seconde) ở Mỹ Tho (trung học Nguyễn Ðình Chiểu), học ở đấy một năm, rồi lên học lớp Maths Elems ở Chasseloup Laubat, đến khoá hè 1952 bị hạ đài, loay hoay mấy tuần,rồi "đi lính"!!

Tôi đang lo ra, nghĩ ngợi lan man, thì thiếu úy Thuần đã qua phần "thân thế và sự nghiệp" cuả ông và đang đi vào phần chánh cuả bài học "nhập môn" mà mỗi binh sĩ. phải thuộc rành: cách ăn mặc,cách xưng hô, cách chào kính, v.v... Vì chúng tôi là lính mới nên phải học rất nhiều thứ. Trước tiên, thiếu uý Thuần "yêu cầu" chúng tôi mặc "khaki short, đội calot, mang souliers bas" sáng hôm sau, tập họp trước trại lá lúc 7giờ 30. Chúng tôi sẽ được kiểm điểm cách ăn mặc, trước khi bắt đầu bài học kế tiếp. Kế đến là cách xưng hô. Ngay tối hôm đó, chúng tôi phải bắt đầu gọi thiếu úy Thuần là "mon lieutenant" (thưa trung uý) thay vì "mon sous-lieutenant" (thưa thiếu uý). Chưa hết, mai mốt đây, chúng tôi còn phải gọi các thượng sĩ và chuẩn uý cuả thiết giáp là "mon lieutenant" thay vì đúng ra chỉ phải gọi họ bằng "mon adjudant" hay "mon aspirant". Qua bài học vở lòng buổi tối đầu tiên trên đồi Tăng Nhơn Phú, khi vừa "nhận quân trang mà chưa kịp mặc", tôi thấy rằng vài chữ Pháp dùng thường xuyên để xưng hô trong "quân đội" thật không ăn chung gì với tự điển Larousse cả.

Cũng tối hôm ấy, thiếu úy Thuần chỉ dẫn chúng tôi các cách chào kính: trước hết là chào trong thế đứng nghiêm. Chào theo lối Pháp: đứng thẳng, tay trái bỏ xuôi theo thân mình, bàn tay phải xoè năm ngón giữ sát nhau, mạnh dạn đưa lên ngang trán, đầu ngón trỏ và ngón giửa tựa vào màng tang phải (thái dương), cao trên lông mày, ngửa trọn lòng bàn tay hướng về người mình chào. Chỉ đi sơ qua một đường lý thuyết suông, vì sáng mai, sau khi tập họp, sẽ được kiểm điểm cách ăn mặc, và sẽ thực hành bài chào kính đúng đắn cho đến khi thuần thục! (Sau này, từ 1955, chúng tôi lại phải học chào tay, và các động tác cơ bản thao diễn theo lối Mỹ (!!!). Sau vụ chào tay, đứng nghiêm, chúng tôi cũng được nghe qua các lối chào khác mỗi khi gặp thượng cấp trên đường đi: vừa đi vừa chào, đang hút thuốc cũng phải chào, tay phải đang xách cặp hay xách gói cũng phải chào, đang đạp xe đạp cũng phải chào, đang lái xe cũng phải chào, hai tay đều bận hay đang mang xách cũng phải chào, chào theo kiểu "hất hàm' (coup de bouc). (Sau này có dịp sẽ xin kể thêm những chuyện "buồn cười" về vụ chào kính này). Và chào những ai? Phải chào tắt cả thượng cấp trong quân đội. Thượng cấp của binh nhì là binh nhứt, thượng cấp của binh nhứt là hạ sĩ, thượng cấp của hạ sĩ là hạ sĩ nhứt. v..v..cho đến cấp thiếu tướng là cấp cao nhứt trong hàng tướng lãnh Việt Nam thời đó (thiếu tướng Hinh ở Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn, thiếu tướng Vận Tư Lệnh Quân Khu 3 ở Hà Nội).

Chào kính ngoài trời xong, đến chào kính ở trong nhà. Trong phòng họp, trong lớp học, trong phòng ngủ, trong phòng tắm, kể cả trường hợp bất ngờ gặp thượng cấp trong nhà vệ sinh. Vì khoá 2 (và cả khoá 3), hầu hết huấn luyện viên đều còn là sĩ quan Pháp, nên nói tiếng Pháp thành bắt buộc, và hô hoán chào kính cũng toàn bằng tiếng Pháp. Phần này, nếu có dịp, sẽ xin được trở lại tỉ mỉ hơn trong phần cơ bản thao diễn (ordre serré? hoặc anh nào còn nhớ nhắc lại dùm). Thế rồi: trường hợp nào thì hô "garde à vous",trường hợp nào thì hô " Fixe", trường hợp nào thì hô "À vos rangs, fixe". Có anh em nào từ khoá 1 đến khoá 3, còn quyển "Règlements" xin đi lại một đường rành mạch, cho anh em nhớ lại phép tắc của nhà trường trong thời kỳ "Pháp chuẩn bị chuyển giao quân đội cho Việt Nam", từ trước hiệp định Genève.

Xong phần chào kính, (chỉ phần lý thuyết sơ khởi vì sự đời đâu có đơn giản như vậy!) thì đến cách tự xưng. Mỗi khi trình diện trước thượng cấp, chúng tôi đều phải bắt đầu hô:"E.O.R. Untel", rồi mới "À vos ordres, mon lieutenant" v..v... Xong phần này, thì thiếu uý Thuần ngưng lại cho biết đã tạm đủ cho buổi tiếp xúc sơ khởi hôm đó. Lẽ tất nhiên, để thực tập, chúng tôi đã hô "Garde à vous" để tiễn vị sĩ quan huấn luyện viên đầu tiên rời khỏi phòng họp.

Ngoài hiên ba dảy trại lá, mấy gánh chè, cháo, trứng vịt lộn đang chờ những anh em có tiền vưà thấy đói, sau bài học "nhập môn" hơn hai tiếng đồng hồ.

Riêng tôi, tôi vẫn miên man nghĩ loanh quanh về các trường: vừa rời trường Chasseloup Laubat nơi tôi học một năm, thì bước vào trường tư thục ở Mỹ Tho nhận lớp Sử Ðiạ, không được bao lâu, tôi lại nhập quân trường để học làm lính.



L o n g T u y ề n
cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị



24095



Image


k ỷ .n i ệ m .Q u â n .T r ư ờ n g - 2
..........(30/09/1952 - 01/04/1953) .
__________________________________________________________________________



Sau mấy ngày nghỉ phép khi hoàn tất giai đoạn I, chúng tôi trở về trường, ai cũng mang theo nhiều gói xách, nhất là các anh đã có gia đình. Từ trưa Chủ Nhật, lần lượt kẻ trước người sau, và những chuyện bên ngoài gần xa được các anh kháo cho nhau liên miên và hấp dẫn.

Bữa cơm tối hôm đó, ngoài đôi mẫu chuyện “72 giờ phép”, phần lớn đề tài đều hướng vào việc chuẩn bị học giai đoạn 2, chưa biết sẽ khó khăn như thế nào, nhưng chắc chắn không còn nặng phần chiến thuật như trước. Tôi lắng nghe và lo âu vì không biết số phận của mình sẽ ra sao? Hơn nữa, tôi còn mang vài ưu tư sau mấy hôm nghỉ phép thăm nhà. Cơm tối xong trở về phòng, chúng tôi nhìn quanh thấy còn thiếu vài người, nhưng đến lúc SVSQ tuần trực gọi điểm danh 9 giờ tối, thì đủ mặt, ngoại trừ mấy anh có phép đặc biệt.

Bắt đầu tuần nhập học, thiếu úy Ðỗ Trọng Thuần giao quyền chỉ huy 14-ème Brigade lại cho trung úy Gonthier, một trong những sĩ quan của ngành Quân Dụng (Matériel) Pháp. Lần lượt, trung úy Gonthier giới thiệu những sĩ quan sẽ đảm nhận phần huấn luyện chuyên môn ở giai đoạn 2. Bây giờ, tôi chỉ còn nhớ đại úy Morel, trung úy Molla, trung úy Simon, thượng sĩ Lefèvre và một trung sĩ nhứt có ria mép mà tôi tên Bartoli. Và đặc biệt, trung đội chúng tôi lại do thiếu tá Pháp Esun đích thân điều khiển phần huấn luyện chuyên môn. Cũng trong tuần này, chúng tôi phải thi nhiều môn gọi là tests psychologiques (trắc nghiệm tâm lý) trong hai ngày. Sau đó, thì vẫn tập duợt lại các môn cũ trong khi chờ đợi: tập họp theo trung đội ba hàng dọc, do SVSQ trực nhật dẫn từ phòng lên lớp, về phòng ăn v.v...

Dựa vào kết quả các môn trắc nghiệm tâm lý, chúng tôi được chia thành nhiều ngành: Administration (Hành chánh do trung úy Simon), Auto (Quân xa do đại úy Morin), Armement (Vũ Khí do trung úy Mollard), Artillerie (Ðại bác do thượng sĩ Lefèvre mà anh em gọi là thằng Méo vì anh này méo miệng), Munitions (Ðạn Dược với trung úy Gonthier). Tôi còn nhớ đại khái: Administration có các anh: Nguyễn Quý Toản, Trịnh Văn Mười Hai, Trần Văn Nghĩa, Phạm Văn Khải, Ðào Hữu Lân, Vương Văn Sắc, Huỳnh Quốc Tuấn v.v... Auto có các anh: Phùng Bá Tú, Ðỗ Việt, Nguyễn Văn Ðệ, Trương Văn Kinh, Lê Kỳ Sơn, Trần Công Ðiểu, Huỳnh Trung Thinh v.v... Armement có các anh: Phan Công Minh, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Như Kiên, Võ Minh Nghiệm, Nguyễn Ðình Giai v.v... Munitions thì chỉ có Huỳnh Ngọc Châu, Ðỗ Hữu Ninh và tôi. Việc chia ngành này đối với tôi giống như xổ số: vì điểm trắc nghiệm và tiêu chuẩn chia ngành đều là bí mật của Phòng Nhân Viên (Secret du Personel) không được ai biết. Lại được nghe rằng ngoài chúng tôi còn có một số sĩ quan vào học chung với chúng tôi trong giai đoạn chuyên môn này.

Quả nhiên, hôm bắt đầu chia toán vào những phòng khác nhau để học chuyên môn, thì tôi thấy có một số sĩ quan mang cấp bực thiếu úy và chuẩn úy vào trình diện. Những anh này, tạm trú ngoài Thủ Ðức, mỗi ngày đi học có xe GMC đưa rước.

Qui chế chúng tôi là sinh viên sĩ quan (élève officier); qui chế các anh là sĩ quan sinh viên (officier élève). Phần đông các anh đều là thiếu úy hiện dịch đã từng làm việc ở đơn vị hay vừa mãn khóa 6 Ðà Lạt; trừ một vài anh là chuẩn úy (như anh Lý Gia Cảnh là một). Tôi còn nhớ đại khái: Nguyễn Anh Tài, Bùi Thành Hưng, (Administration); Phạm Tất Thông, Hồ Chung, Trần Văn Khoa, Ðỗ Văn Vạng (Auto); Nguyễn Ðăng Ðàn, Trần Viết Nghi, Lý Gia Cảnh (Armement); Lê Văn Cầu, Nguyễn Nhựt Quang, Phạm Văn Việt (Munitions). Anh Nghi còn là trưởng toán sĩ quan sinh viên này.

Trong trường SVSQTB Thủ Ðức bấy giờ, chỉ có 14-ème Brigade là hơi đặc biệt. Danh xưng thì hao hao giống Blindé trong khi các trung đội khác gọi là peleton. Thành phần SVSQ nội trú tập họp ba hàng dọc đi về cũng giống các trung đội khác. Nhưng tại lớp học thì pha lẩn trừ bị và hiện dịch, sĩ quan và SVSQ. Riêng thành phần huấn luyện viên, thì thật là hùng hậu. Hùng hậu vì đủ thành phần. Thiếu tá Esun ngang cấp bực với thiếu tá Bouillet, đang là chỉ huy trưởng của trường. Anh em gọi là thiếu tá Esun là Tư lé hay Tư lùn, nguyên là một thiếu tá bộ binh (fantassin-Commandeur de la Légion dõHonneur); cùng với đại úy Morin và trung úy Mollard đều là sĩ quan của quân đội chánh quốc (Métropolitain); trung úy Simon thì thuộc quân đội thuộc địa (Coloniale); còn trung úy Gonthier thì thuộc Forces Francaises Libres (gọi tắt là FFL) xuất thân từ lực lượng kháng chiến đồng hoá, sau khi Pháp được giải phóng khỏi ách quốc xã Ðức.

Vào đầu giai đoạn chuyên môn, chúng tôi học chung hai môn Technologie Générale (Kỹ thuật tổng quát) và Technologie des Ateliers (Kỹ thuật cơ xưởng). Hôm nay tôi không còn nhớ gì nhiều về hai môn này; nhưng vẫn còn mỉm cười khi nhớ các chữ burin (đục khắc thép), bédane (đục dầy nhỏ bản), massette (búa vuôn) v.v... do trung úy Mollard phát âm một cách đặc biệt. Lần lần, chúng tôi phải học phần chuyên môn vào chi tiết, nên thường học ở lớp riêng; thỉnh thoảng lại phải tập trung để nghe các chỉ thị tổng quát từ trung ương (bấy giờ còn mang tên là Direction Centrale du Matériel gọi tắt là DIRMAT). Mỗi lần tập họp chung như vậy, anh Nghi được chỉ huy tổng quát hai thành phần SQSV và SVSQ. Anh có cách hô khó mà quên được. Thay vì hô rõ ràng “garde à vous”, thì anh chỉ hô “VụP” một tiếng. Lẽ tất nhiên, chúng tôi đều đứng dậy theo lời hô của anh, nhưng vẫn thấy vui vì lạ tai.

Phần tôi, cùng với các anh: Lê Văn Cầu, Phạm Văn Việt, Nguyễn Nhựt Quang, Hoàng Ngọc Châu, Ðỗ Hữu Ninh, 6 đứa học môn Ðạn Dược với trung úy Gonthier. Học về các hoá chất, tính chất các hỏa dược, cách nhận diện các lô đạn và mìn, cách đọc các ám số sơn trên đầu đạn, các dấu hiệu khắc dưới đuôi đạn, học phân biệt đạn nổ mạnh, đạn xuyên phá, đạn chứa lân tinh hay hóa chất, cách tồn trử đạn dược trong nhà, ngoài trời, thủ tục quản trị đạn dược theo lô theo loại, thủ tục hành chánh kế toán v.v... Chúng tôi cũng được học hệ thống tổ chức và chỉ huy các kho đạn. Nhưng có hai môn mà trung úy Gonthier nhắc đi nhắc lại nhiều lần là an toàn trong kho đạn và chung quanh kho đạn, và an toàn khi phải phá hủy đạn dược. Nói tóm lại, ngành Ðạn Dược bấy giờ, được tôi xem là một ngành chuyên giữ miệng hỏa diệm sơn không hẹn giờ... bùng nổ.

Sau mỗi đợt huấn luyện, chúng tôi được trường cho xe GMC chở đi thăm các nơi cần thiết để quan sát ( nếu là ngành phụ) và thực tập (nếu là ngành chính của mình). Như 6 đứa chúng tôi ngành Ðạn Dược, thì chỉ đi qua các xưởng quân xa, hay vào kho tồn trử tiếp liệu để nhìn qua cho biết mà thôi, không ở lâu, không vào chi tiết. Nhưng khi vào kho đạn trong vườn cao su Phú Thọ, thì chúng tôi phải ở lại đấy hằng ngày và trở lại đấy nhiều lần để xem các ụ chứa đạn, các kho nhỏ có khoá, phải tự tay ghi vào sổ sách các xuất nhập kế toán theo thủ tục hằng ngày v.v...

Nhân dịp đi thực tập như vậy, tôi mới thấy tài lên xe đặc biệt của anh Phạm Văn Việt mà anh em tặng biệt danh là “Việt thuốc lào” vì anh chuyên hút thuốc lào, hay “Việt Bazooka” vì hình dạng của cái ống thuốc lào của anh. Anh thường thích hút một hơi thuốc lào trước khi lên xe. Vì SVSQ trưởng xa phải kiểm điểm đủ số học viên, mới ra lịnh cho tài xế di chuyển; anh Việt chưa lên xe, trưởng xa không dám ra lệnh cho tài xế chạy. Anh em chờ lâu sốt ruột nhắc nhở trưởng xa. Trưởng xa quay lại thúc anh Việt. Anh Việt bảo: “Từ từ” rồi tiếp tục hít điếu cầy. Dứt hơi thuốc, anh mới bảo: “Cậu cho xe chạy đi”. Bực mình, trưởng xa ra lịnh cho xe di chuyển. Bấy giờ anh Việt mới lúp xúp chạy theo, hai tay bíu vào tay vịn thang, nhảy thót lên một cách nhẹ nhàng, thong thả leo từng nấc thang trong khi xe vẫn chạy; lên xe một cách ung dung, từ từ ngồi vào băng, mỉm cười hiền lành một cách khoái chí. Cảnh này luôn xảy ra, mười lần như một, may mà không hề xảy ra tai nạn. Hồi đó có thể vì còn trẻ, anh nghịch phá một chút cho vui vậy thôi. Nhờ thế mà hôm nay còn có kỷ niệm nầy về anh. Thực ra, hơn 22 năm trong quân ngũ, tôi chỉ nghe thấy anh là một sĩ quan chăm việc thương người, chưa nghe ai phiền hà gì về anh. Cho đến bây giờ, mỗi lần gặp lại anh, tôi vẫn chỉ thấy một người nhân hậu, hiền hòa, đáng mến, nhưng vẫn là Việt thuốc lào, không thay đổi.

Nhắc đến anh Phạm Văn Việt của toán sĩ quan sinh viên, mà không nhắc Lê Kỳ Sơn của 14-ème Brigade thì cũng là một điều thiếu sót. Anh Sơn là con của một bác sĩ bệnh viện đô thành Sài Gòn, em anh Lê Kỳ Chương, bạn học cùng lớp với tôi ở Première Moderne - Mỹ Tho. Anh Sơn cao suýt soát anh Võ Minh Nghiệm nhưng không làm homme de base cho trung đội diễn hành được. Mấy lần anh Nghiệm vắng mặt, SVSQ tuần trực đưa anh Sơn làm chuẩn, thì trung đội không cách gì đi theo anh đúng nhịp, lệch lạc hàng ngũ, phải trái lộn xộn, sau đành phải thôi. Anh rất tĩ mỉ, cẩn thận, nhứt là anh câu chấp quá mức thành ra ương gàn. Anh viết chữ rất nhỏ, nhưng tập vỡ của anh thật lem luốc. Con người của anh cũng vậy, để khỏi dùng những chữ của anh em gán cho anh. Có điều anh học rất chăm, tôn trọng kỷ luật đúng mức. Các môn học trong 2 giai đoạn anh đều được điểm cao. Ðiều đáng kể nhứt về anh là anh có cách “ợ” mà cả trường đều biết, vì ít nhứt ai cũng có nghe được một lần tiếng “sư tử hống” của anh (chữ này mới có sau này khi kiếm hiệp Kim Dung nhập Việt Nam), nhứt là những đêm anh lên phiên gác giặc ở trạm canh trên lầu nước (chateau dõeau). Nghe kể lại, anh Sơn đã chết trong trại cải tạo mà chúng tôi chưa rõ chi tiết! Xin nhắc đến anh một lần ở đây, vì anh từng là một “nhân vật ly kỳ” của 14-ème Brigade suốt 6 tháng chung sống ở trên đồi Tăng Nhơn Phú.


* * *

Nhân đi xe chung trong các chuyến quan sát và thực tập, tôi biết rằng anh em thuộc mấy ngành kia đều đã đi sâu vào chi tiết của chuyên môn ngành Vật Liệu (tên của binh sở thời bấy giờ). Những điều anh em trao đổi qua câu chuyện càng ngày càng rắc rối và xa lạ đối với tôi. Và lâu lâu, tôi cũng ghé qua câu lạc bộ, gặp vài anh em bên pháo binh, truyền tin hay bộ binh, tôi cũng nhận thấy tương tự. Nói chung anh em đều thu thập thêm nhiều kiến thức chuyên môn và quân sự trong binh chủng của mình.

Trong thời kỳ, cũng có xảy ra một vụ tuyệt thực khác ở một đại đội bộ binh (mà tôi không còn nhớ nỗi). Nhưng lần này, dù số người tham gia tuyệt thực đông hơn, anh em bị đàn áp thẳng tay. Vì, qua giai đoạn 2, kỹ luật trường đã được nhồi nắn lâu rồi; trường đã có kinh nghiệm vụ bỏ cơm của chúng tôi hồi mùa bão, trường lại có hậu thuẩn mạnh mẽ của Bộ Tổng Tham Mưu dưới quyền thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh. Việc tuyệt thực đang xảy ra, thì một số anh em bị hốt ra khỏi trường đưa thẳng xuống các đơn vị. Tôi không rõ số lượng (bí mật quân sự mà!); nhưng năm1958, tôi gặp anh Hinh (cũng tên Hinh nhưng không nhớ họ) đang phụ trách về Truyền Tin ở Tiểu Khu Vĩnh Long, mang cấp bực trung sĩ nhứt từ ngày rời trường. Anh cho biết anh bị dính trong vụ đó, về sau mấy lần xin đi học lại không được, đành chịu ù lì trong dang dở! Tôi cũng biết anh phải bị “mắc cạn” như vậy, vì năm 1953, khi sang Pháp học ngành Matériel, tôi có dịp đọc một vài tài liệu liên quan đến các vụ tương tự trong quân đội Pháp. Quân luật Pháp khép những quân nhân tuyệt thực hay biểu tình vào tội nổi loạn (mutinerie): nhẹ thì giáng cấp và tù, nặng thì biệt giam như trọng phạm, nặng nữa thì tử hình. Trường đang do Pháp điều khiển, Bộ Tổng Tham Mưu thì do tướng Nguyễn Văn Hinh, một sĩ quan công dân Pháp điều khiển. Tướng Hinh bật đèn xanh cho trường; trường áp dụng kỷ luật thì anh em bị búng ra khỏi trường, mà còn sống được, kể ra thì cũng đến nỗi “cạn tàu ráo máng”!

Năm 1996, tôi gặp anh Nguyễn Linh Chiêu, một sĩ quan kỳ cựu, ngồi kể lại chuyện này, anh cười ngất: “Vì tụi nó (Pháp) biết anh em chưa học rành kỷ luật, nên tụi nó nhẹ tay lần đầu, chớ kỷ luật Pháp đối với mutinerie là nặng lắm.”

Vì chương trình học vừa nặng, mà nghe tình hình anh em bên trại tuyệt thực không khá, tôi cũng hơi lo, không biết tai bay họa gởi lúc nào. Nhưng lần hồi rồi tình hình cũng lắng đọng, anh em đi học lại bình thường.

Cũng không nhớ đúng vào tháng nào, trường cho gọi thợ may; rồi cả trường lần lượt từng trung đội lên xếp hàng cho thợ lấy ni tấc từng người. Cũng gần ngày ra trường, việc đo may quân phục này cũng gây bàn tán mất mấy hôm. Vì chưa ai biết mình có đủ điểm để ra thiếu úy, hay rủi ro lại thành “thượng sĩ gân”? (cấp bực chuẩn uý cũng một nút thau tròn như cấp thượng sĩ, có thêm chữ alpha nằm lên). Hai tuần sau, lại được gọi lên xếp hàng nhận quân phục mới. Về phòng mặc vào đi tới đi lui. ừ, vừa thì cũng vừa, chật chật, rộng rộng, ngắn ngắn, dài dài, chung chung thì anh nào cũng ưng ý, vui vẻ. (Hình như có cả đôi giày đen tình trạng cũng hao hao như vậy! Của nhà thầu quân đội giao mà!)

Hai tuần chót là thi ra trường. Trung đội nào cũng thi. Không khí chung háo hức lo âu; ngoại trừ một vài anh tài ba có thừa, hay vững tin số mạng(?), còn bao nhiêu cũng lo lắng ôn bài như hồi thi diplôme hay tú tài ở ngoài. Cái màn chong đèn học đêm lại diễn tương tự hồi còn học thi trung học. Tôi cũng như anh em, vùi đầu học thuộc lòng các công thức, các ám số, cân lượng, ni tấc của các loại đạn dược.

Thi một loạt bài viết, rồi chờ thi hạch miệng y như thi diplôme. Giám khảo môn Ðạn Dược là thiếu uý Pignard lon bạc “métro”. Anh hỏi tôi đủ điều hóc hiểm trong ngành, tôi đáp dễ dàng. Anh ta thích lắm, mà Gonthier cũng thích ra mặt. Trước khi cho điểm tôi, anh hỏi câu chót: “Khi phá đường rầy xe lửa, thì dùng mìn như thế nào?” Tôi đáp: “Tùy theo loại mìn tôi có khi đó”. Anh gật gù nhưng bảo: “Rất tiếc anh không trả lời câu tôi hỏi?” Tôi chịu thua vì mìn hằng chục loại, nhưng tôi chưa phá đường rầy bao giờ, làm sao dám đáp liều. Tôi chào giám khảo ra khỏi phòng. Gonthier ra theo nói nhỏ: “Ðiểm của mày cao lắm, nhưng vì câu chót, hắn trừ mất của mày nửa điểm”. Tôi gạ Gonthier: “Câu hỏi của nó kỳ quá”. Gonthier cười: “Tủ của nó đó! Hồi còn ở trong bưng (maquis bên Pháp), nó là chuyên viên đánh đường rầy, chỉ một cách thức dùng effet de coupe”. Tôi kêu trời, vì tôi không hiểu hết ý trong câu hỏi của nó. Tôi tưởng nó giăng rộng, đâu ngờ nó chận hẹp. Chứ kiểu buộc 4 thỏi mìn, kẹp hai bên đường rầy, so le mỗi bên 2 thỏi, đâu có gì thần kỳ bí mật, chỉ có điều là không có cơ hội đánh phá thực sự mà thôi. Nhờ Gonthier tiết lộ, tôi tự lượng sức mình, tự lượng bài vở, tự lượng các bài hạch miệng, tôi ung dung chờ đợi kết quả để biết hạng cao thấp thế nào mà thôi.

Vừa thảnh thơi được một hai ngày sau khi thi hạch miệng, thì có tin huấn luyện viên trực tiếp bắt đầu cho điểm “Code d'amour”, làm anh nào cũng băn khoăn. Vì Code dõamour ở đây không có nghĩa là ám số tình ái, mà là một loại điểm hạnh kiểm của huấn luyện viên trực tiếp hay trung đội trưởng phân phối cho học viên. Phân phối theo lối “peréquation”. Ví dụ: Trung đội có 30 người thì trường cho trung đội trưởng 12 điểm mỗi người, cọng chung là 12 x 30 = 360 điểm. Trung đội trưởng có toàn quyền chia 360 điểm này cho 30 học viên. Cao nhứt là 20 điểm, thấp nhứt 8 điểm. Toàn quyền vì không ai được khiếu nại, vả lại biết đâu mà khiếu nại. Trung đội trưởng có quyền dồn điểm cho một sinh viên xuất sắc của mình để anh này có điểm cao, được xếp hạng cao. Nhiều sinh viên được xếp hạng cao, nhứt là nếu một sinh viên đoạt thủ khoa, thì huấn luyện viên trực tiếp có quyền hãnh diện v..v.. Ðây là một dịp cho huấn luyện viên thưởng phạt. Thưởng một người thì phải phạt một hay vài người. Ví dụ: một người được 20 điểm, thì ít nhứt phải có 4 người chỉ còn trung bình 9,11 điểm(12 x 5 = 60; chia ra 20 + 11 + 10 +10 + 9 = 60). Với 20 điểm, một anh có thể đậu rất cao, nhưng chắc chắn 4 anh kia bị tuột hạng rất xa. Mà khi ra trường, hạng rất quan trọng vì người đậu cao được ưu tiên chọn lựa đơn vị đáo nhậm. (Hởi ôi! Sau này tôi mới biết rằng hình thức ưu tiên chọn đơn vị theo hạng thi ra trường này chỉ dành cho những anh không thế lực, không quen biết mà thôi!).

Một buổi chiều giửa tuần chấm code dõamour, tôi được trung úy Gonthier gọi lên phòng. Tại đây luôn có mặt Simon (hai chàng này gần như inséparables=bức không rời), Gonthier bảo tôi:
- Tom Pouce, mày (toi là mày chứ gì nữa) ra thiếu úy là cái chắc (tôi gật đầu); mà cũng chắc chắn mày không đậu thủ khoa nỗi (tôi lại gật đầu) dù tao cho mày điểm tối đa. Với điểm code dõamour tối đa, mày sẽ leo lên chừng 15 bực nữa tức parmi les 20 premiers; nhưng một trong hai thằng bạn mày phải ra chuẩn úy, vì tao không còn điểm để vớt nó. Vậy mày suy nghĩ 2 phút rồi cho tao biết: “Mày muốn đậu cao hay muốn bạn mày được mang lon thiếu úy như mày khi ra trường”. Tôi đáp liền không suy nghĩ: “Mon lieutenant, ca mõest complètement égal dõêtre le 20 ème ou le 100 ème sous-lieutenant de la promo. Allez-y carrément”. Gonthier và Simon bắt tay tôi tươi cười hể hả. Tôi chào hai anh rồi ra về, thực tình tôi không biết Gonthier muốn vớt ai. Tôi về nói nhỏ với Phan Công Minh. Anh sừng sộ: “Mày ngu như bò, không biết trình bày để giữ điểm, tuột hạng là cái chắc; rồi không được ưu tiên chọn đơn vị, thì bị đi ra Bắc!” Tôi làm thinh, băn khoăn cũng có, cam phận cũng có.

Cuối tuần, trường tuyên bố kết quả, lâu quá tôi không còn nhớ rõ khi đọc hạng trung đội ở trong phòng hay đứng ngoài sân: tôi được hạng 3 trung đội; và hạng 30 trên bảng xếp hạng chung của trường. Vì ở hạng 30 nên tôi được tháp tùng thiếu uý Gautier, sĩ quan huấn luyện Truyền Tin, đến tư dinh Tổng Trưởng Quốc Phòng bấy giờ là ông Lê Quang Huy để dự cơm trưa. Trong dịp này tôi có gặp đại uý Thiết Giáp Lê Quang Triều, bào đệ của ông Huy đang làm tùy viên cho ông. Suốt thời gian trò chuyện chờ vào bàn ăn, đại uý Triều vẫn canh cánh đeo thanh gươm dài bên sườn. Chừng vào bàn ăn, thanh gươm mới được cởi ra treo lên tường. Tôi còn nhớ rõ là bà Huy ngồi giữa bàn bên kia; đối diện bà là ông Huy ngồi giữa bàn bên này; tôi ngồi bên trái ông Huy đối diện với đại uý Triều ngồi cạnh bà Huy. Suốt bữa ăn, đối thoại toàn bằng tiếng Pháp, vì bà Huy là người Pháp. Tây Ta uống rượu như uống nước, tôi chỉ ăn uống cầm chừng vì còn “khớp” quá. (Tuy nhiên nhờ đó mà tôi học được rất nhiều về cách thức của yếu nhân chánh phủ tiếp tân).

Chiều hôm đó, còn lan man về không khí bữa ăn trưa ở tư dinh Tổng Trưởng Quốc Phòng (oai lắm chớ bộ!), còn nghe mấy anh kể chuyện ăn cơm ở dinh thủ tướng và ở các nơi quan trọng khác, tôi lại được trung úy Gonthier gọi lên phòng. Chẳng biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng Simon lại vẫn có mặt. Gonthier hỏi tôi có thích thú khi đến dự cơm ở tư dinh Tổng Trưởng Quốc Phòng? Tôi đáp: “Có, nhưng tiếc là không cùng đi với ông”. Anh ta cười cười: “Ðáng lẽ mày còn được dự ở chỗ cao hơn nữa. Nhưng tao đã ép mày chịu nhường điểm Code dõamour cho bạn mày. Có Simon đây, tao nói cho mày biết: Je le regrette sincèrement; le gars ne mérite pas ma note et ton sacrifice.” Tôi lờ mờ thấy có chuyện lôi thôi giữa khóa sinh và huấn luyện viên, nên im lặng chào tay rồi rút êm, không hỏi thêm. Và sau đó, khi ra trường, suốt thời gian làm việc chung với Gonthier, tôi vẫn không hỏi, dù có nhiều dịp chuyện trò thân mật.

Mấy ngày sau, thiếu tá Esun cho tập họp 14 ème Brigade để cho tân sĩ quan chọn đơn vị. Bấy giờ, ngoài một số anh em nguyên quán ở Bắc Việt, còn lại đa số ở Miền Trung hoặc Miền Nam. Ai cũng muốn về gần quê quán mình. Hạng nhứt trung đội anh Trần Văn Nghiã, hạng nhì anh Vương Văn Sắc đều chọn 3 ème Région Militaire (Hà Nội); hạng ba, tôi chọn 1 ère Région Militaire (Sài Gòn) vì Cần Thơ chưa có chỗ. Ðến phiên anh Võ Minh Nghiệm thì 1 ère và 2 ème Région Militaire đã bị anh em chọn trước hết, chỉ còn chỗ ở 3 ème Région Militaire; anh ngập ngừng nhưng rồi vẫn chọn 1 ère Région Militaire. Thiếu tá Esun cười nhắc anh là không còn chỗ, nhưng anh vẫn lắp bắp (vì anh cà lăm, nói lắp), vẫn lập lại y chang không thay đổi. Thiếu tá Esun đành cười bảo ghi tên anh vào 3 ème Région Militaire (Hà Nội) khiến anh tiu nghỉu, làm anh em buồn cười vì cái gàn ngây thơ cụ của anh, mà cũng buồn cho anh vì biết gia cảnh anh khá nặng.

Ðiểm, hạng, ăn, uống trở thành những chuyện phụ trong tuần cuối. Chuyện chánh là tập dượt diễn hành suốt mấy ngày để tất cả sĩ quan mãn khóa xuống Sài Gòn làm lễ tuyên thệ. Vẫn: ẸỌR. Nghiệm, homme de base; Brigade en 3 colonnes, alignement! Serrez! Armes à lõépaule, droite! En avant, marche! Un, Deux! Attention, halte! Reposez, armes! A droite, droite! Présentez, armes! v.v... Cứ thế mà tập cả tuần, phờ người. Nhưng ai phấn khởi vì sắp mãn khóa.


* * *

Ngày trọng đại của Khóa II Thủ Ðức đã đến. Từ 5 giờ sáng tất cả các trung đội đều vận quân phục chỉnh tề, súng ống đầy đủ, lần lượt xếp hàng lên xe vận tải. 14 ème Brigade được 3 xe. Ðoàn xe hướng về Sài Gòn, đổ tất cả sĩ quan mãn khóa xuống góc đường Paul Blanchy và Chasseloup Laubat. Sĩ quan trung đội trưởng hướng dẫn đi theo order serré: Arme à lõépaule, droite. En avant, marche! 14 ème Brigade được xếp hàng ngay góc đường Norodom và Catinat (?) phía trước mặt nhà thờ. Rồi chờ đợi. Lâu lâu, lại so hàng di chuyển vài mươi bước theo lịnh của chỉ huy tổng quát buổi lễ. Mãi đến gần 9 giờ lễ mới bắt đầu. Tôi biết là lễ bắt đầu nhờ nghe Ban Quân Nhạc và tiếng hô vẳng vẳng mà không thấy người chỉ huy, cũng không thấy khán đài. Cứ y theo lịnh: Présentez, armes (Bắt súng chào). Reposez, armes (Kềm súng xuống) v.v... Ngay khi major (thủ khoa) Paul Nguyễn Thành Huê tuyên thệ với vị đại diện của quốc trưởng Bảo Ðại như thế nào tôi cũng không nghe; nhưng biết tên khóa II Thủ Ðức là Khóa Phụng Sự. Cái tên nghe thật đẹp, thật lý tưởng mà cũng thật là chính xác và tiền định. Ðẹp vì chúng tôi đã hiến thân dưới cờ để đáp lời sông núi. Lý tưởng vì Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Chính xác và tiền định vì cả khóa rất nhiều anh lỗi lạc như: Trần Ngọc Huyến, Nguyễn Tử Ðóa, Nguyễn Qúy Toản, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Bàng v.v... mà suốt 22 năm quân vụ không một anh nào lên tướng lúc sinh tiền, chỉ có mấy anh chết rồi mới thấy được truy thăng như: Nguyễn Văn Thiện (Thiết Giáp), Nguyễn Văn Khương (Bộ Binh).

Buổi lễ mãn khóa diễn tiến trơn tru, êm thuận trong một buổi sáng nắng vàng thật tươi và vừa ấm. Lễ hoàn tất, chúng tôi lại xếp hàng lên xe về trường. Về đây, chúng tôi mang vũ khí trả vào kho, rồi làm thủ tục rời trường, lãnh giấy phép về thăm nhà. Sau đó, mạnh ai nấy trình diện thẳng với Sở Vật Liệu liên hệ mà mình đã chọn, hay được thiếu tá Esun phân phối cho hôm trước.

Hơn 46 năm qua rồi! Gần nửa thế kỷ trôi xuôi từ ngày hơn 300 sĩ quan khóa II Thủ Ðức rời trường (01 tháng 04 1953)! Hơn 300 sĩ quan đem trọn cuộc đời dâng hiến dưới cờ, tận tâm phục vụ quốc gia dưới hai chữ PHụNG Sự ! Cho đến ngày 30 tháng 04 năm 1975... !!!!



L o n g T u y ề n
cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức / Khoá II



24349



Image


đ ơ n .v ị .n h ậ p .n g à n h
..........(25/03/1953 - 30/08/1953) .
__________________________________________________________________________



Mãn khóa 2 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, chúng tôi có mấy tuần thực tập tại các đơn vị đồn trú quanh Sài Gòn. Tôi thực tập tại kho đạn của quân đội Pháp trong rừng cao su gần trường đua ngựa Phú Thọ. Trong thời gian này, có văn thư mở cuộc thi tuyển sĩ quan vào trường École d’Application du Matériel (Fontainebleau, Pháp) để học thêm về ngành chuyên môn. Tôi nạp đơn dự thí (lâu quá rời tôi không nhớ nỗi ngày thi).

Ngày 25 tháng 05 năm 1953, tôi được lệnh thuyên chuyển về Ðại Ðội 1 Trung Hạng Sửa Chữa Quân Cụ (1ère Compagnie Moyenne de Réparation du Matériel viết tắc 1ère C.M.R.M. mà chúng tôi thường gọi đùa là Rơm Nhe Cà Rem) đồn trú trong thành Chí Hòa. Trong khu trại này, có tư dinh của đại tá Lê Văn Tỵ, bấy giờ là Tư Lịnh Ðệ Nhứt Quân Khu. (Trước khi mãn phần, ông là Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, được vinh thăng Thống tướng duy nhứt của QLVNCH). Ðơn vị trưởng là đại úy Cahoreau, sĩ quan Métro (Métro từ chữ Armée Métropolitaine là quân đội chánh quốc, khác với sĩ quan Colo từ chữ Armée Coloniale chỉ quân đội thuộc địa). Trên giấy tờ, bấy giờ tôi là thặng số chuẩn bị thành lập Phân Ðội Ðạn Dược.

Sau một tuần lễ nghỉ phép ra trường, tôi đáo nhậm đơn vị ngày 9 tháng 6 năm 1953. Hôm đó, sáng thứ hai, đại đội trưởng, đại úy Cahoreau không có mặt. Tôi gặp đại đội phó là một trung úy Métro Pháp (quên mất tên). Anh này bảo tôi đi một vòng cho biết đơn vị. Tôi loanh quanh khu chỉ huy thì gặp anh Huỳnh Quốc Tuấn trong văn phòng Hành Chánh với thiếu úy Bùi Văn Ðối. Người thứ hai mà tôi gặp ở đây là thượng sĩ Bắc, thượng sĩ đại đội (adjudant de compagnie sau này gọi là thượng sĩ quản cơ). Thượng sĩ Bắc cho tôi biết: đại úy Cahoreau bổ nhiệm tôi làm Officier du Service Général (Sĩ quan Tổng vụ). Tôi xuống xưởng quân xa thì gặp anh Trương Thoại Kinh đang nhận quyền chỉ huy xưởng này có trung sĩ nhứt Mưu phụ tá. Trưa hôm đó, tôi được chỉ định đi chung xe Jeep vớùi thiếu úy Bùi Văn Ðối, chuẩn úy Cừ (không nhớ họ, sau này về Thủy Quân Lục Chiến), chuẩn úy Lâm Văn Hai, chuẩn úy Nguyễn Ngọc Hạnh. Mấy tháng sau, chuẩn úy Hạnh được chỉ định làm Trung đội trưởng Trung đội Xếp Dù. Ðến khi tái tổ chức, Trung Ðội Xếp Dù thành cơ hữu của Sư Ðoàn Nhảy Dù. Xe có tài xế lái, thiếu úy Ðối ngồi ghế trưởng xa, bốn đứa chúng tôi chia nhau băng sau. Và chúng tôi cùng nhau đi xe này hơn một tháng, mỗi ngày bốn chuyến đi về.

Hôm sau, đại úy Cahoreau cho tùy phái gọi tôi vào trình diện. Qua phần chào kính thăm hỏi sơ sài, Ðại úy Cahoreau xác nhận vị trí Sĩ quan Tổng vụ của tôi. Tôi nhận lệnh không thắc mắc: vì cùng khóa 2 Thủ Ðức, thiếu úy Huỳnh Quốc Tuấn, nguyên là giáo sư, mãn khóa Administration làm Hành Chánh ở văn phòng Ðại Ðội; thiếu úy Trương Thoại Kinh ngoài dân sự sắp là kiến trúc sư, mãn khóa Auto nhận xưởng quân xa. Tôi, bạch diện thư sinh, mãn khóa Munitions nhưng quân đội Việt Nam chưa có kho đạn, thì thân phận thặng số (quân số thặng dư) làm sĩ quan tổng vụ là phải rồi. Xong phần trình diện, đại úy Cahoreau cho thượng sĩ Bắc đưa tôi xuống xưởng nhận việïc. Ðặt dưới quyền chỉ huy của tôi là trung sĩ Sáng và 2 tài xế (một anh là hạ sĩ nhứt Ðiểu). Phương tiện là 2 chiếc xe trút (benne). Công tác là trải đá quanh hai dảy nhà Arromanches mới cất trên ruộng lầy. Một dảy đang là cơ xưởng quân xa và một dảy đang dọn dẹp làm kho tiếp liệu. Ðá là đá ong (latérite = đá đỏ Biên Hòa) do Kho (Génie) Công Binh Tạo Tác bên Thị Nghè cung cấp. Mỗi sáng, vào đến đơn vị, sau khi điểm danh xong, tôi leo lên ghế trưởng xa xe benne do hạ sĩ nhứt Ðiểu lái chạy trước, trung sĩ Sáng leo ghế trưởng xa xe benne thứ hai theo sau, trực chỉ cầu Thị Nghè. Có người tại kho Génie xúc đá ong đổ lên xe. Khi đầy đá, hai xe nối đuôi nhau chạy về Chí Hòa. Tài xế cho xe nghiêng thùng trút đá xuống bãi lầy. Thượng sĩ Bắc cho mấy người dùng xẻng trải đá từ chung quanh nền xưởng lần lần ra ngoài. Mỗi ngày trung bình ba chuyến xe trút đi về. Ðá ong được trải ra, lần lần hút nước sình và khu sân quanh hai dảy Arromanches càng ngày càng khô ráo hơn. Bây giờ tôi không còn nhớ rõ vị trí kho Génie này ở đâu; chỉ còn nhớ rằng hai xe mỗi ngày đều qua lại cầu Thị Nghè và Vườn Thú Sài Gòn.

Tôi còn nhớ, một lần, hạ sĩ nhứt Ðiểu lái xe ôm cua thế nào mà xe leo lề, đẩy ngã một đống gạch. Tôi bảo xe dừng lại. Hạ sĩ Ðiểu và tôi cùng nhau xếp đống gạch lại ngay ngắn, nhưng bị bể nát gần 200 viên. Tôi liên lạc trung sĩ Công binh người Pháp, đền liền 200 đồng bạc bằng tiền lương của tôi. Hắn vui vẻ lấy tiền, mà không biên nhận. Sáng hôm sau, khi báo cáo theo thủ tục hằng ngày công tác hoàn tất hôm qua, tôi có cho đại úy Cahoreau biết vụ này. Ông ta cười và bảo: “Vous n’avez pas à payer comme ça”. (Anh khỏi trả tiền như vậy). Rồi im luôn, tôi bị mất toi 200$. Sau qua Pháp học về Hành Chánh, tôi mới hiểu là tôi đã quá thiệt thà. Tài sản nhà binh, bể 200 viên gạch thì báo cáo miệng rồi huề; và cùng lắm thì báo cáo viết tay và ghi vào phần cuối: “hư hại này xảy ra ngoài ý muốn của tài xế, đề nghị quỹ quốc gia đài thọ” (imputé à l’État?)

Mỗi ngày ba chuyến; mỗi chuyến hai xe. Thấm thoát đã hơn một tháng, bãi lầy quanh 2 nhà Arromanches đã khô ráo, xe cộ ra vào nén thêm lớp đá ong Biên Hòa xuống, đất thành rắn chắc hơn. Tôi sắp sửa thất nghiệp thì một sáng thứ hai (lại thứ hai) đầu tháng 7 1953, trung úy (X) đại đội phó gọi tôi và bảo tôi qua trình diện thiếu tá Esun. Tôi hỏi: “Nhưng tôi (Je) chưa từ giả đại úy Cahoreau thì sao?”. Hắn bảo: “Anh (Vous) đi đi, nếu chậm trễ chúng mình (nous) sẽ không yên với lão Esun! Tôi sẽ báo cáo đại úy Cahoreau về việc anh được lão Esun gọi”. Tôi nhận rằng đám sĩ quan quân cụ Pháp hơi ngán thiếu tá Esun. Anh em khóa 2 Thủ Ðức gọi lén lão là Tư Lé hay Tư Lùn. Tôi không gọi như vậy bởi tôi cũng bị anh em gọi là Trang lùn như lão. Thiếu tá Esun đã từng chỉ huy một tiểu đoàn fantassins d’Afrique thời kháng Ðức, có nhiều croix de vaillance (Anh dũng bội tinh) lại thêm Commandeur de la Légion d’Honneur (Ðệ tứ đẳng Bắc Ðẩu bội tinh?) trước khi sang Việt Nam. Thế là tôi bèn lên xe Jeep do tài xế đại đội lái đưa tôi qua DIRMAT I (Direction du Matériel de la 1 ère Région Militaire). Hồi 1953, đơn vị này được gọi là Sở Vật Liệu Ðệ Nhứt Quân Khu. Sang đây thì được biết là thiếu úy Nguyễn Hồng Ðài (khóa I Thủ Ðức) được đề cử đi học lớp Sĩ Quan Quân Cụ tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức; tôi tạm thời thay thế vào chỗ trống đó tại Phòng Hành Chánh cho đến khi có lịnh mới.

Thứ tư tuần đó, đại úy Cahoreau sang DIRMAT I gặp thiếu tá Esun. Không biết chuyện gì xảy ra khi hai vị này gặp nhau. Sau đó tình cờ tôi đụng đầu Cahoreau ngoài hành lang. Hắn nhẹ nhàng trách tôi không trình diện hắn trước khi đi. Tôi lễ phép đáp rằng trung úy X thúc tôi đi, và hắn có hứa sẽ báo cáo lại. Ðại khái có hai câu va chạm dấm dẳng.

Cahoreau: “C’est la première chose et la dernière chose qu’un officier a à faire avant de quitter l’unité”. (Ðây là điều đầu tiên và điều cuối cùng mà một sĩ quan phải làm trước khi rời đơn vị).

Tôi: “Je le savais parfaitement mais je ne pouvais pas faire autrement. J’avais à exécuter l’ordre donné par votre adjoint quand vous n’étiez pas là”. (Tôi biết rõ điều này nhưng tôi không làm khác hơn được. Tôi phải thi hành lịnh từ vị phụ tá của ông khi ông không có ở đó). Sau này tôi còn gặp lại đại úy Cahoreau một lần tại trường Fontainebleau trong một hoàn cảnh khác: lớp tôi học, hắn không theo học được, vì hắn đã từng dự thi mà chưa vào lọt.

Làm việc ở DIRMAT I thích thú hơn vì mỗi ngày phải đọc hằng xấp công văn (chữ Việt cũng có mà chữ Pháp nhiều hơn) nên tôi học thêm rất nhiều từ ngữ và cách hành văn trong quân đội. Tôi biết thêm nhiều về việc trang bị những Tiểu Ðoàn Khinh Quân (TÐKQ) cũng như nhiều đơn vị tân lập khác. Riêng hồ sơ Kho Ðạn Dược cho Ðệ Nhứt Quân Khu chỉ vẽn vẹn có một văn kiện thành lập. Ðịa điểm chưa có, quân số chưa có, trang bị chưa có. Nghe đâu vào cuối năm 1953, thiếu úy Lê Ngọc Ẩn mãn khóa từ Fontainebleau về, nhận nhiệm vụ thành lập đơn vị này.

Hơn một tháng làm việc chung ở DIRMAT I, tôi quen thiếu úy Lý Văn Minh bên Phòng Quân Xa (sau anh lên đại tá hiện ở Úc-đại-lợi); thượng sĩ Lê Văn Dậm (từ sang Hoa kỳ, vị trung tá tài hoa này tuyệt tích giang hồ); trung sĩ nhứt Ðặng Kha (sau lên thiếu tá). Tôi đi chung xe Jeep với mấy anh, mỗi ngày bốn lượt đi về dọc lộ 20. Hồi 1953, dọc hai bên đường còn nhiều ao hồ đầy bèo tai tượng và lục bình. Có hôm, mưa xuống còn nghe nhái và nhóc nhen kêu vọng. Khu đó xưa là khu mả ngụy (Tây gọi là Plaine des tombeaux).

Một hôm, đang chăm chú viết công văn (chữ Pháp), ráng o bế từng câu vì ngại lão Esun cho là Français de Malgache, tôi nghe hô “gạt đờ bu” (Garde à vous). Tôi vội đứng lên theo nghi thức thì thấy lão “Tư Esun” vào thăm văn phòng. Ðến chỗ tôi, lão đứng lại bắt tay: “Vous êtes reçu au concours d’admission à l’E.A.M de Fontainebleau. Mes félicitations. Vous partirez au début de Septembre.” (Anh đã đậu vào trường Quân Cụ Fontainebleau. Tôi khen anh đó. Anh sẽ lên đường đầu tháng 9). Tôi chào cảm ơn ông. Chỉ có vậy thôi, rồi ông quay trở ra, trong khi tôi bần thần đứng đó. Ðối với tôi, thi đậu không phải là chuyện khó, chỉ đậu cao hay thấp; nhưng chưa biết làm sao để đi Tây.

Ðơn vị nhập ngành của tôi là 1 ère C.M.R.M. Tôi làm Tổng Vụ ở đây hơn một tháng, chuyển sang DIRMAT I làm Hành Chánh gần 2 tháng. Tuần chót tháng 8 1953, tôi nghỉ phép, nhận giấy thuyên chuyển lên trình diện Ðơn Vị Quản Trị kể từ ngày 30 tháng 8 năm 1953.

Anh em Quân Cụ sau này đáo nhiệm Ðại Ðội Rơm Nhe Cà Rem (1 ère C.M.R.M.) có ai biết một sĩ quan được đào tạo làm chuyên viên Ðạn Dược, suốt mấy tháng liền đã nhận lo việc đổ mấy trăm xe đá ong Biên Hòa chung quanh 2 nhà Arromanches kho xưởng Ðại Ðội trong thành Chí Hòa, vào thời Ngành Quân Cụ sắp được Pháp chuyển giao cho QLVNCH khi Việt Nam thu hồi Ðộc Lập.



L o n g T u y ề n
Xong ngày 05 tháng 06 năm 2004



24686 top -
SƯƠNG BÁM CỎ MAY
1, 2
_______________________________________________
Về Một Sợi Tóc - thơ - Nguyên Nhi _______________________________________________

Image

tình vui gởi sợi tóc xanh
biển hoan lạc dỗ giấc nhành rong tôi
đêm mơ nhặt sợi tóc trôi
ngại chi không buộc hết đời với nhau?

xem tiếp...

_______________________________________________
Những Mảng Vụn Của Ký Ức Còng - văn - Lư Ngọc Dung _______________________________________________

Image

Tôi lắc đầu cười. Tôi cũng như bà, yêu thích nếp sống độc lập. Nhưng cái gì sẽ xảy ra tôi không đoán trước được. Song tôi biết rằng những tình cảm mà tôi dành cho bà sẽ không bao giờ thay đổi vì nhờ có bà tôi mới biết được nhiều điều trong những ngày bỡ ngỡ với cuộc sống tha phương...

xem tiếp...

_______________________________________________
Mộng Lành - nhạc - Nguyễn Thành Vân _______________________________________________

Image



xem tiếp...

_______________________________________________
Bridge View - ảnh - tshoang1 _______________________________________________

Image


xem tiếp...